|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12/3/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn giữa chị Q và anh T.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hoàng Long và bà Nguyễn Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 12/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXX-ST ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vương Thị Q, sinh năm 1987, SĐT: 0972.483.xxx, có mặt;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, SĐT: 0923.666.xxx, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Khu phố Y, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*. Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Vương Thị Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 13/02/2008, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là phường) G. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống, thời gian đầu hòa thuận và hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2023 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp. Đến đầu năm 2024, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân. Nay, chị cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, sống với nhau không hạnh phúc và không có khả năng đoàn tụ nên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.
- Về nuôi con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 22/7/2009 và cháu Nguyễn Quang V, sinh ngày 11/5/2015. Hiện các cháu khỏe mạnh và đang ở với chị.
Ly hôn, chị xin được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị cho rằng chị đảm bảo các điều kiện về mặt tinh thần cũng như vật chất để nuôi con chung. Hiện chị đang làm việc tại Quỹ tín dụng nhân dân Hồ Hoài T1, thu nhập 11.000.000 đồng/01 tháng (chị có bản sao kê lương nộp để làm căn cứ). Còn anh T làm nghề tự do.
- Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.
*. Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cùng địa phương đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng với anh T (trong đó, có tiến hành lấy lời khai, giao Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải,...) nhưng anh T không chấp hành và hợp tác nên Tòa án không tiến hành lấy lời trình bày của anh T cũng như tiến hành hòa giải được.
*. Trong lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, 02 con chung của chị Q và anh T là cháu Nguyễn Quang V và cháu Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với chị Q.
*. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh:
- Bà Nguyễn Thị T2 là Trưởng khu phố Y trình bày: Anh T và chị Q kết hôn với nhau vào năm 2008. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống, thời gian đầu hòa thuận và hạnh phúc. Khoảng 02 năm gần đây, anh T thường xuyên đi làm ăn xa, thi thoảng mới về. Tòa án và địa phương đã giao văn bản tố tụng cho anh T nhưng không gặp. Nay chị Q làm đơn xin ly hôn với anh T và yêu cầu giao người nuôi dưỡng con chung, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản, công nợ địa phương không nắm rõ.
- Bà Vương Thị Đ là mẹ đẻ của anh T trình bày: Anh T đi làm ăn xa, thi thoảng mới về. Về quan hệ vợ chồng anh T và chị Q không có mâu thuẫn trầm trọng. Quan điểm của bà Đ là đề nghị Tòa án hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ, nuôi dạy con cái. Về con chung bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung thì bà không nắm rõ.
*. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân thủ đầy đủ và đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự (trừ bị đơn).
- Việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị:
- +. Về hôn nhân: Cho chị Vương Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- +. Về nuôi con chung: Giao cả 02 con chung là cháu D và V cho chị Q nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề cập giải quyết.
- +. Về chia tài sản: Không đề cập giải quyết.
- +. Về án phí: Buộc chị Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn có yêu ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; bị đơn có nơi cư trú ở Khu phố Y, phường G, thị xã T. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đây là vụ án dân sự về Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Tại phiên tòa mở lại hôm nay, mặc dù bị đơn là anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân:
Nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Vương Thị Q và anh Nguyễn Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều kiện kết hôn, nên hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không tiến hành hòa giải được (bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt), nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn; còn bị đơn trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành trực tiếp đến lấy lời trình bày cũng như báo gọi lên giải quyết và hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn không hợp tác và không đến, hơn nữa tại phiên tòa mở lại lần này bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, chứng tỏ bị đơn nhằm gây khó khăn và thực sự không có thiện chí về đoàn tụ.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa hai bên đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về nuôi con chung:
Xét thấy, sau khi ly hôn vợ chồng phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên, căn cứ vào nguyện vọng của con (cháu D và cháu M đều có nguyện vọng được ở với chị Q), quyền lợi về mọi mặt của con và điều kiện nuôi con của hai bên, nên cần giao cả 02 cháu D và cháu M cho chị Q nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Do các bên không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập xem xét. Tuy nhiên, sau này các bên vẫn được quyền yêu cầu bằng vụ việc dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[2.3]. Về chia tài sản:
Do các bên không yêu cầu xem xét, nên không đề cập giải quyết. Tuy nhiên, sau này các bên vẫn được quyền yêu cầu bằng vụ việc dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[3]. Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vương Thị Q và anh Nguyễn Văn T.
- Về nuôi con chung:
- Giao cả 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 22/7/2009 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 11/5/2015 cho chị Q nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề cập giải quyết.
- Về chia tài sản: Không đề cập giải quyết.
*. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc chị Vương Thị Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai BLTU/24 số 0001519 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành; chị Q đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
*. Về quyền kháng cáo:
Báo cho đương sự có mặt biết quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt được quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
| Nguyễn Văn Tuyến |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
Quyết định số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp ly hôn
- Số quyết định: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
