Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 19/2024/QÐST-HNGĐ

Hải Dương, ngày 15 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

  • - Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Quách Thị Phương Thúy.
  • - Thư ký phiên họp: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 117/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/3/2024 về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con theo Quyết định mở phiên họp số 125/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02/4/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

  • + Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1993. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
  • + Chị Nguyễn Huyền T, sinh năm 1995. ĐKHKTT: Thôn D, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú hiện nay: Số A N, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị B, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

Người được anh V, chị T, bà B ủy quyền giao, nhận văn bản: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990. Địa chỉ: KDC T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự vắng mặt và đều có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và các văn bản gửi cho Tòa án, người yêu cầu là anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Huyền T thống nhất trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Huyền T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên ngày 10/12/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi nhau do tính cách, quan điểm sống khác nhau. Anh V đi lao động tại Đài Loan từ năm 2014 và hiện vẫn đang ở Đài Loan. Chị T sang Đài Loan lao động từ năm 2016 đến năm 2019 thì về sinh sống ổn định tại Việt Nam. Do vợ chồng thường xuyên sống xa nhau nên không có sự quan tâm, động viên nhau kịp thời trong công việc và cuộc sống hằng ngày dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Hiện anh V và chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Anh V và chị T có một con chung là Nguyễn Ngọc A- sinh ngày 08/7/2014. Hai bên thỏa thuận giao cháu Ngọc A cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Anh V ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Vũ Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A trong thời gian anh không có mặt tại Việt Nam. Anh V, chị T tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Quá trình làm việc với Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị B trình bày: Thời gian anh V, chị T chung sống cùng bà thì hai bên thường xảy ra bất hòa, to tiếng với nhau do bất đồng quan điểm trong xử lý các vấn đề và do tính cách có nhiều điểm khác biệt. Bà nhiều lần góp ý, động viên nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Sau đó vợ chồng liên tục phải sống xa nhau nên không có sự gần gũi, quan tâm, động viên nhau kịp thời dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách. Hiện hai bên thuận tình ly hôn nên bà đề nghị Tòa án chấp nhận. Bà vẫn luôn hỗ trợ anh V, chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A từ khi cháu được sinh ra cho đến nay. Bà đồng ý nhận ủy quyền của anh V về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A trong thời gian anh V không có mặt ở Việt Nam.

Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị C đã thông báo cho anh V, chị T, bà B biết và các đương sự vẫn giữ nguyên nội dung, quan điểm đã trình bày.

Tại phiên họp: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự. Áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Huyền T. Chấp nhận sự thỏa thuận của anh V, chị T về việc giao con chung Nguyễn Ngọc A- sinh ngày 08/7/2014 cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Tạm giam cháu Ngọc A cho bà Vũ Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh V không có mặt tại Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, quan điểm của các đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Huyền T đều có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh V hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Chị T hiện đang sinh sống tại số A N, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Các tài liệu anh V gửi cho Tòa án đều được chứng thực hợp pháp nên có cơ sở xác định nội dung các tài liệu thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của anh V. Các đương sự đều có văn bản đề nghị Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung yêu cầu:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Huyền T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên ngày 10/12/2013. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng thường xảy ra to tiếng do tính cách, quan điểm sống khác nhau. Từ năm 2014 đến nay, vợ chồng thường xuyên phải sống xa nhau nên không có sự quan tâm, động viên nhau kịp thời dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Hiện cả hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh V và chị T.

[2.2] Về con chung: Anh V, chị T xác định có một con chung là Nguyễn Ngọc A- sinh ngày 08/7/2014 và thống nhất giao cháu Ngọc A cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Anh V ủy quyền cho bà B, bà B nhất trí nhận ủy quyền của anh V về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A trong thời gian anh V không có mặt ở Việt Nam. Xét thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, phù hợp thực tế cháu Ngọc A vẫn luôn được bà B chăm sóc, nuôi dưỡng từ bé cho tới nay nên cần chấp nhận. Anh V, chị T tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu giải quyết nội dung này nên Tòa án không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3] Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Huyền T.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Huyền T về việc giao con chung Nguyễn Ngọc A- sinh ngày 08/7/2014 cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Anh V, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

    Tạm giao cháu Nguyễn Ngọc A cho bà Vũ Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Nguyễn Đức V không có mặt ở Việt Nam.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về lệ phí: Chị Nguyễn Huyền T tự nguyện chịu cả 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000₫ theo biên lai số 0000512 ngày 14/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do chị Vũ Thị C nộp thay). Chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp lệ phí.
  4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Minh Tân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ việc dân sự;
  • - Lưu Văn phòng Tòa án.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Quách Thị Phương Thúy

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 19/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con

  • Số quyết định: 19/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh V và chị T thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger