Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2025/DS-PT

Ngày 25-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng ủy

quyền, hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, hợp đồng thế

chấp, hợp đồng tín dụng, yêu cầu bồi

thường thiệt hại về tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh

Các Thẩm phán: Ông Phan Trí Dũng

Ông Trần Thị Thắm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 439/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 585/2024/QĐ-PT ngày 31/12/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965 và bà Võ Thị Đ, sinh năm 1966; cùng địa chỉ: Khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: số H, đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 30/9/2022); có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: số A, đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 24/4/2023 và ngày 18/8/2023); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Tuấn A Luật sư Công ty L2 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của ông T1: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 18/8/2023 và ngày 19/6/2024); có mặt.

  2. Ông Võ Chung H, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ D, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; địa chỉ: Tầng A và B, tòa nhà S P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tiến L1, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 – Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Giấy ủy quyền ngày 14/11/2024); có mặt.

  4. Bà Bùi Thị Thanh K, sinh năm 1976; địa chỉ: A, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  5. Văn phòng Công chứng Thành Phố M; địa chỉ: Ô, B Lô G, khu thương mại, đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Anh T2 – Trưởng Văn phòng; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

  6. Văn phòng C; địa chỉ: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Sinh V1 – Trưởng Văn phòng; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

  7. Văn phòng C; địa chỉ: khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T3 - Trưởng Văn phòng; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

  8. Văn phòng C; địa chỉ: số A đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Thanh M - Trưởng Văn phòng; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt..

  9. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1991 và bà Vũ Thị P, sinh năm 1993; cùng địa chỉ: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; ông Nguyễn Quốc T1 và bà Bùi Thị Thanh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 27/9/2022, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 05/7/2023 và ngày 24/10/2023, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ là ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông Nguyễn Văn S và bà Võ Thị Đ có ký hợp đồng ủy quyền thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương cho em của bà Đ là ông Võ Chung H vào ngày 16/7/2019, mục đích của việc ký ủy quyền là ông H thiếu vốn làm ăn nên ông H có nhờ bà Đ và ông S ký ủy quyền đất cho ông H để ông thế chấp vay vốn làm ăn, giữa ông H với ông S và bà Đ có thỏa thuận là ông H chỉ được thế chấp đất vay vốn tại ngân hàng, ngoài ra ông H không được phép ủy quyền, chuyển nhượng, tặng cho hay thực hiện giao dịch khác ngoài việc vay vốn tại ngân hàng. Sau đó, ông S và bà Đ được biết ông H tiếp tục ủy quyền lại thửa đất số 352 cho ông Nguyễn Quốc T1 mà không được sự đồng ý của ông S và bà Đ, ông H ủy quyền thửa đất này cho ông T1 mà không có thông báo cho ông S, bà Đ biết, lý do ông H ủy quyền lại thửa đất 352 cho ông T1 là vì ông T1 cho ông H vay số tiền 2.800.000.000 đồng, ông T1 yêu cầu ông H ký ủy quyền là để đảm bảo cho việc vay tiền này, việc vay tiền giữa ông T1 và ông H có làm giấy và ông T1 đang giữ giấy này.

Sau đó bà Đ và ông S được biết ông T1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 352 này cho bị đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm V là con gái của ông T1 nhằm mục đích hợp thức hóa nguồn gốc thửa đất và đưa đất này vào ngân hàng thế chấp lấy tiền vay, việc làm này của bà V và ông T1 gây thiệt hại về tài sản của ông S và bà Đ. Trên thửa đất 352 có tài sản là căn nhà cấp 4 của ông S và bà Đ, trước đây căn nhà ông S và bà Đ cho người thuê, nhưng trong thời gian đang thuê thì bà V tự ý kêu người đến tháo dỡ, sự việc này có Công an phường H, thành phố B giải quyết, hiện tại người thuê đất đã phải chuyển đi nơi khác vì bị bà V ngăn cản không cho sử dụng nhà đất.

Nay ông S và bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ với ông Võ Chung H ngày 16/7/2019 được Văn phòng C quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD.
  • Hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 17/7/2019 giữa ông Võ Chung H với ông Nguyễn Quốc T1 được Văn phòng C quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD.
  • Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Quốc T1 với bà Nguyễn Thị Cẩm V ngày 30/12/2020 được Văn phòng C Mới công chứng số 021305, quyển số 12-2020 TP/CC-SCC/HĐGD.
  • Hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4907455.21.638 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với bên thế chấp là bà Nguyễn Thị Cẩm V hợp đồng được Văn phòng C công chứng số 00818 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD.
  • Buộc bà V phải bồi thường thiệt hại do tháo dỡ tài sản, đồ đạc, nhà cửa trên thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B với số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
  • Buộc bà V bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất từ việc cho thuê nhà trên đất mỗi tháng 5.000.000 đồng tạm tính từ tháng 10/2022 đến khi vụ án xét xử là tháng 7/2024 là 01 năm 09 tháng với số tiền 105.000.000 đồng (một trăm lẻ năm triệu đồng).

Việc ông S, bà Đ yêu cầu hủy các hợp đồng trên là các hợp đồng này giả tạo để che giấu cho việc vay tiền. Ngoài ra, trên thửa đất 352 có tài sản là nhà của ông S và bà Đ. Ông S, bà Đ đang quản lý và cho thuê nhà đất nhưng khi các bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng thế chấp không có ý kiến đồng ý của ông S, bà Đ và người thuê đất làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông S, bà Đ và người thuê đất.

- Người đại diện của bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V là bà Nguyễn Thị L trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:

Trước khi xảy ra tranh chấp với ông S, bà Đ thì bà V không biết ông S, bà Đ là ai, bà V là con của ông Nguyễn Quốc T1, bà V có nhận chuyển nhượng thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương của ông T1, giá chuyển nhượng là 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng), tiền trả chính là tiền mà bà V thế chấp thửa đất 352 để vay vốn ngân hàng, tại thời điểm bà V ký chuyển nhượng thửa đất 352 từ ông T1 thì bà V không biết trên đất có nhà và nhà này đang cho thuê, sau khi chuyển nhượng đất bà V mới biết, bà V chỉ có tháo dỡ mái che căn nhà trên đất, đối với mái nhà, tường gạch là do bà Đ tháo dỡ.

Bà Nguyễn Thị Cẩm V ký hợp đồng nhận chuyển nhượng thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương ngày 30/12/2020, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C Mới, tỉnh Bình Dương, việc ký hợp đồng chuyển nhượng đúng theo quy định pháp luật. Đối với việc giữa ông S, bà Đ và ông H có thỏa thuận riêng với nhau hay ông H gây thiệt hại gì cho bà Đ và ông S thì ông H phải chịu trách nhiệm trực tiếp với ông S và bà Đ.

Nay bà V không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu độc lập của ngân hàng: bà V thừa nhận có vay vốn ngân hàng như ngân hàng trình bày, thừa nhận hiện tại vẫn còn nợ với số tiền như ngân hàng trình bày, lý do bà V không trả tiền vay đúng thỏa thuận là do nhân viên ngân hàng nói là bà V đã bị nợ xấu nên không cần đóng tiền nữa, nay bà V đồng ý trả nợ cho ngân hàng nhưng hiện tại điều kiện kinh tế khó khăn nên

không thể trả toàn bộ như ngân hàng trình bày, bà V yêu cầu duy trì trả theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên.

- Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 là bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà V là con của ông T1, ông H vay tiền của ông T1 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng), ông H ký ủy quyền toàn quyền thửa 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B cho ông T1 để bảo đảm cho việc vay tiền, hai bên có thỏa thuận là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày vay nếu ông H không trả tiền vay thì ông T1 có quyền bán hay các quyền khác đối với thửa đất số 352, lãi thỏa thuận như thế nào thì bà L không rõ, thời gian vay là ngày 17/7/2019, việc cho vay có lập biên bản thỏa thuận, tuy nhiên khi thực hiện hợp đồng vay thì ông H không trả bất kỳ khoản tiền lãi nào cho ông T1, đến hiện tại tiền gốc và tiền lãi ông H cũng không trả, trước khi ký chuyển nhượng cho bà V thì ông T1 có nhiều lần thông báo cho ông H qua điện thoại là nếu ông H không trả tiền vay thì ông T1 sẽ chuyển nhượng hay bằng cách nào đó xử lý thửa đất 352 để thu hồi lại tiền ông T1 cho ông H vay nhưng ông H không trả lời, chỉ có vợ ông H chỉ nhắn tin với ông T1 hỏi số tiền ông H vay của ông T1 và hỏi về tình trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 352 cấp cho ông S, bà Đ. Do ông T1 có nhu cầu thu hồi lại tiền cho ông H vay nên ông T1 chuyển nhượng thửa đất số 352 cho con ông T1 là bà V với giá 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng), bà V đã giao cho ông T1 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng), ông T1 đã nhận tiền, hiện tại bà V đã thế chấp thửa đất 352 vào ngân hàng để vay số tiền 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng) để trả tiền chuyển nhượng đất cho ông T1. Bà L không biết khi ông H ký ủy quyền toàn quyền thửa đất số 352 cho ông T1 thì ông T1 có biết trên thửa đất 352 có nhà và nhà này cho đang cho thuê hay không.

Việc ký hợp đồng ủy quyền giữa ông S, bà Đ với ông H, hợp đồng ủy quyền giữa ông H với ông T1 là tự nguyện, hợp quy định pháp luật, hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T1 với bà V cũng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên ông T1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S, bà Đ. Ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ vay tiền giữa ông T1 với ông Võ Chung H nên đề nghị Tòa án không giải quyết nội dung này.

Đối với yêu cầu độc lập của ngân hàng thì ông T1 thừa nhận có vay vốn của ngân hàng và hiện tại còn nợ số tiền như ngân hàng trình bày, nay ông T1 đồng ý trả nợ cho ngân hàng nhưng hiện tại điều kiện kinh tế khó khăn nên không thể trả toàn bộ như ngân hàng trình bày, ông T1 đồng ý duy trì trả theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Chung H trình bày:

Ông H là em của bà Võ Thị Đ, bà Đ và chồng là ông Nguyễn Văn S có ủy quyền cho ông H thửa đất số 352 tại phường H, thành phố B để ông H mượn đi vay vốn ngân hàng, ông H có vay ông T1 2.800.000.000 đồng (hai tỷ tám trăm triệu đồng) và thế chấp thửa đất số 352 cho ông T1 bằng hình thức ký hợp đồng

ủy quyền, số tiền vay ghi trong giấy giữa hai bên là 4.000.000.000 đồng vì ông T1 đã cộng tiền lãi vào số tiền gốc vay, ông T1 tự ý ký hợp đồng chuyển nhượng cho con gái là bà V rồi thế chấp đất vào ngân hàng là trái quy định của pháp luật, ông H đồng ý với các yêu cầu của bà Đ, ông S, ông H không có yêu cầu Tòa án giải quyết việc vay tiền giữa ông H với ông T1.

- Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q là ông Hà Đăng V2 trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V4) đã ký với bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số 2221237.21 ngày 19/01/2021 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K vay số tiền 3.900.000.000 VND; Mục đích vay vốn: Bù đắp mua bất động sản tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; thời hạn vay: 240 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 22/01/2041; lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12,5%/năm; hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng vào cùng ngày trả lãi, từ tháng 1 - 120: Mỗi tháng trả 5.000.000 đồng, từ tháng 121 - 240: Mỗi tháng trả 27.500.000 đồng. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 22, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 22/02/2021;

Ngày 22/01/2021, V4 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 9479936.21 với số tiền 3.900.000.000 đồng.

  • Hợp đồng tín dụng số 7076966.21 ngày 19/01/2021 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K vay số tiền 100.000.000 VND; Mục đích vay vốn: tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 96 tháng; Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12,7%/năm; Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng vào cùng ngày trả lãi, mỗi tháng trả 1.041.000 VND, tháng cuối cùng thanh toán hết số tiền còn lại. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 22, ngày trả nợ đầu tiên vào ngày 22/02/2021;

Ngày 22/01/2021, ngân hàng đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7104706.21 với số tiền 100.000.000 đồng.

Căn cứ tại điểm 9.1.3 khoản 9.1 Điều 9 của Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 4907455.21.638 ngày 20/01/2021, thì Bên B (Bên thế chấp) sẽ bị coi là đã vi phạm các điều khoản của Hợp đồng nếu “Bên B là đối tượng của bất cứ vụ tranh chấp/kiện tụng nào mà theo Bên A là ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng tín dụng và hợp đồng này hoặc Bên B mất khả năng trả nợ”. Hiện tại, bà Nguyễn Thị Cẩm V là bị đơn trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền “ được Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương thụ lý, giải quyết. Việc tranh chấp trên ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng đã yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K thực hiện thanh toán toàn bộ

khoản nợ cho ngân hàng, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K vẫn không thực hiện.

Tạm tính đến ngày 23/05/2024, bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K đã trả cho V4 số tiền tổng cộng là 1.816.874.002 đồng (trong đó: nợ gốc 574.149.400 đồng, nợ lãi 1.242.724.602 đồng) và còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền là: 4.089.677.025 đồng (Bằng chữ: Bốn tỉ, không trăm tám mươi chín triệu, sáu trăm bảy mươi bảy nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng), bao gồm:

  • Đối với Hợp đồng số 2221237.21 nợ gốc là 3.356.039.600, lãi trong hạn 27.846.442, lãi quá hạn 684.018.840, phạt chậm trả lãi 2.681.794 đồng, tổng cộng 4.070.586.676 đồng.
  • Đối với Hợp đồng số 7076966.21, nợ gốc là 69.811.000 đồng, lãi trong hạn là 550.837 đồng, lãi quá hạn là 16.206.641 đồng, phạt chậm trả lãi 50.434 đồng. Tổng cộng là 86.618.912 đồng.

Biện pháp bảo đảm tiền vay:

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 352, tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 602768, số vào sổ cấp GCN: CS09537 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/12/2017, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/01/2021 đứng tên bà Nguyễn Thị Cẩm V”.

Yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau:

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm tính đến ngày 27/6/2024 như sau:

  • Đối với Hợp đồng số 2221237.21 nợ gốc là 3.356.039.600, lãi trong hạn 27.846.442, lãi quá hạn 684.018.840, phạt chậm trả lãi 2.681.794 đồng, tổng cộng 4.070.586.676 đồng.
  • Đối với Hợp đồng số 7076966.21, nợ gốc là 69.811.000 đồng, lãi trong hạn là 550.837 đồng, lãi quá hạn là 16.206.641 đồng, phạt chậm trả lãi 50.434 đồng. Tổng cộng là 86.618.912 đồng.

Trường hợp bà V, ông T1 và bà K không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì yêu cầu Tòa án tuyên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương để thu hồi nợ vay cho ngân hàng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Thanh K trình bày:

Bà K là vợ của ông Nguyễn Quốc T1, bà K thống nhất với ý kiến của ông T1 về việc ông T1 cho ông Võ Chung H vay tiền và việc ông T1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B cho con gái

là bà V, đối với việc vay vốn ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì bà K thừa nhận có vay vốn và hiện tại vẫn còn nợ với số tiền như ngân hàng trình bày, lý do là nhân viên ngân hàng nói là bà V đã bị nợ xấu nên không cần đóng tiền nữa, nay bà K đồng ý trả nợ cho ngân hàng nhưng hiện tại điều kiện kinh tế khó khăn nên không thể trả toàn bộ như ngân hàng trình bày, bà K đồng ý duy trì trả theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày:

Nay Văn phòng Công chứng Phạm Văn T3 xin giải trình về trình tự thủ tục chứng nhận Hợp đồng ủy quyền số 1730, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 16/7/2019 như sau:

Đối với Hợp đồng ủy quyền số 1730 chứng nhận ngày 16/7/2019 giữa bên ủy quyền là ông Nguyễn Văn S cùng vợ là bà Võ Thị Đ và bên được ủy quyền là ông Võ Chung H.

Vào ngày 16/7/2019, Công chứng viên Phạm Văn T3 là Trưởng phòng có tiếp nhận hồ sơ công chứng hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 diện tích 385,2m² tọa lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ và ông Võ Chung H.

Sau khi yêu cầu các đương sự cung cấp đầy đủ các giấy tờ theo đúng quy định của pháp luật, căn cứ theo yêu cầu của từng người tham gia giao dịch công chứng viên tiến hành làm thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất nêu trên, cụ thể như sau:

Ông Nguyễn Văn S cùng vợ là bà Võ Thị Đ đã đồng ý để cho ông Võ Chung H được toàn quyền thay mặt và nhân danh ông Nguyễn Văn S cùng vợ là bà Võ Thị Đ thực hiện các công việc sau:

Xin trích lục, trích đo, đo đạc, tách thửa, hợp thửa, xác định ranh giới, cắm mốc ranh giới, phục hồi mốc ranh giới, ký liên ranh, kiểm tra hiện trạng, xác định vị trí tính thuế, xác nhận tình trạng bất động sản;

Cung cấp thông tin; đính chính, điều chỉnh, chỉnh lý diện tích đất hành lang; chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có sai lệch diện tích; đính chính, chỉnh lý, thay đổi thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cập nhật, điều chỉnh địa giới hành chính; cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong trường hợp làm mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được thực hiện các thủ tục để xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

Chuyển mục đích sử dụng đất, định vị vị trí chuyển mục đích sử dụng đất, ghi nợ tiền sử dụng đất, trả nợ tiền sử dụng đất, định vị lại thổ cư, định vị vị trí đất ở, điều chỉnh vị trí đất ở;

Xin giấy phép xây dựng, xin chủ trương đầu tư, xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, xin điện, nước, xin giấy chứng nhận an ninh trật tự, xin giấy chứng nhận phòng cháy chữa cháy, giấy bảo vệ môi trường;

Thỏa thuận và nhận tiền đền bù giải tỏa (nếu có);

Giải quyết các vấn đề liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính về đất đai;

Chuyển nhượng (quyết định giá chuyển nhượng, nhận tiền đặt cọc, ký hợp đồng đặt cọc, nhận tiền chuyển nhượng), tặng cho, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất; bao gồm cả việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thanh lý các hợp đồng đã ký kết;

Nộp các khoản thuế, phí, lệ phí có liên quan;

Trong phạm vi ủy quyền bên B được ủy quyền lại cho bên thứ ba với các nội dung ủy quyền nêu trên.

Trong phạm vi ủy quyền bên B được quyền thực hiện các công việc, thủ tục nêu trên ngay cả khi mục đích sử dụng đất có thay đổi, diện tích thửa đất có thay đổi (tăng hoặc giảm), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được cấp đổi, cấp lại, được toàn quyền nộp và nhận hồ sơ, lập, ký tên trên tất cả các văn bản liên quan, thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Đối với quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn S cùng vợ là bà Võ Thị Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 602768, số vào sổ CS09537 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/12/2017.

Ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ và ông Võ Chung H đã tự nguyện lập văn bản, tại thời điểm công chứng, các ông bà có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, mục đích, nội dung văn bản công chứng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và các ông bà tham gia giao dịch này đã tự đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng và đồng ý ký tên, điểm chỉ lên trên hợp đồng trước sự chứng kiến của công chứng viên.

Ý kiến của Văn phòng công chứng về vụ việc như sau:

Trong quá trình thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền nêu trên, ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ và ông Võ Chung H đã cung cấp đầy đủ các giấy tờ chứng minh về nhân thân và tài sản, công chứng viên đã thực hiện việc công chứng theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Việc yêu cầu hủy Văn bản công chứng số 1730, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 16/7/2019 là do ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ và ông Võ Chung H tự thỏa thuận với nhau, kính đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày:

Văn phòng C (trước đây là Văn phòng C) có công chứng Hợp đồng ủy quyền công chứng số: 001045, quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/07/2019.

Về trình tự thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền: Công chứng viên đã tiến hành kiểm tra thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng và xét thấy hồ sơ của

ông Võ Chung H và ông Nguyễn Quốc T1 cung cấp là đầy đủ, hợp pháp nên đã tiếp nhận và tiến hành thụ lý hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật.

Về ghi nhận nội dung giao kết hợp đồng: thông qua việc ghi nhận nội dung thỏa thuận công chứng viên đã xác định:

Ông Võ Chung H và ông Nguyễn Quốc T1 có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật, việc giao kết hoàn toàn tự nguyện, không có dấu hiệu bị đe dọa và cưỡng ép:

Mục đích, nội dung thỏa thuận của các bên không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Công chứng viên đã giải thích rõ cho hai bên nội dung hợp đồng ủy quyền;

Hợp đồng ủy quyền được soạn thảo đúng theo những thỏa thuận của hai bên đã được Công chứng viên ghi nhận lại.

Ông Võ Chung H và ông Nguyễn Quốc T1 đã tự đọc, kiểm tra nội dung bản hợp đồng ủy quyền. Sau khi đọc xong, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng đã ký và điểm chi vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên ngay tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương.

Chứng nhận hợp đồng: tại thời điểm công chứng Văn phòng C không nhận được bất kỳ văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền đề nghị ngăn chặn hoặc tạm đình chỉ thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Do đó, tài sản đủ điều kiện giao dịch theo quy định của pháp luật.

Công chứng viên đối chiếu lại với bản chính của các giấy tờ phô tô trong hồ sơ yêu cầu công chứng đã chính xác và thực hiện ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng; đóng dấu của Văn phòng C, thực hiện thu phí, thù lao công chứng, lưu trữ.

Việc Công chứng viên của văn phòng C đã thực hiện công chứng các hợp đồng nêu trên là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Văn phòng C đề nghị Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ, xét xử theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Thành Phố M trình bày:

Văn phòng C Mới công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 021305, quyển số 12-2020 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng ngày 30/12/2020 giữa ông Nguyễn Quốc T1 với bà Nguyễn Thị Cẩm V, văn phòng công chứng có ý kiến như sau:

Tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được công chứng viên Văn phòng C Mới chứng nhận vào ngày 30/12/2020 thì hồ sơ công chứng nêu trên hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc công chứng được thực hiện đúng với thủ tục và quy trình công chứng theo quy định

của Luật Công chứng năm 2014 và quy định của Văn phòng C Mới. Văn phòng C Mới khẳng định việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là đúng quy định pháp luật. Do đó Văn phòng C Mới không đồng ý với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày:

Qua nghiên cứu Luật Công chứng và các văn bản có liên quan, kiểm tra hồ sơ lưu, văn phòng công chứng có ý kiến đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 00818, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD như sau:

Về năng lực hành vi dân sự:

Bên thế chấp: Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1998.

Bên nhận thế chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

Tại thời điểm công chứng các bên tham gia giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Các bên đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, bên thế chấp đã đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng, đồng ý ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng. Đại diện bên nhận thế chấp là bà Huỳnh Thị Hồng P1 đã ký trước vào hợp đồng này, mẫu dấu của bên nhận thế chấp đúng với mẫu dấu đã đăng ký, chữ ký của bà Huỳnh Thị Hồng P1 đúng với chữ ký đã đăng ký tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương.

Như vậy, tại thời điểm công chứng, các bên tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện ký kết hợp đồng, không bị lừa dối hay ép buộc.

Về địa điểm công chứng:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 00818, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD được hiện thực tại trụ sở Văn phòng C.

Công chứng viên đã chứng kiến bên thế chấp đọc lại hợp đồng, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng và ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng. Đồng thời công chứng viên đã đối chiếu, kiểm tra bản chính các giấy tờ với hồ sơ lưu, xác nhận đúng nhân thân, chữ ký, dấu vân tay của bên thế chấp, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ, hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng.

Đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Cẩm V căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK602768 vào số cấp GCN số CS09537 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/12/2017, được cập nhật biến động ngày 07/01/2021.

Công chứng viên đã kiểm tra thông tin ngăn chặn và thấy không có bất kỳ văn bản ngăn chặn của cá nhân, tổ chức nào đối với quyền sử dụng đất nêu trên.

Đồng thời, công chứng viên đã yêu cầu bên thế chấp cung cấp đơn xác nhận tình trạng bất động sản, Ủy ban nhân dân phường H có xác nhận ngày

08/01/2021: thửa đất số 352, tờ bản đồ số 14 nêu trên do ông/bà Nguyễn Thị Cẩm V đang quản lý sử dụng ổn định, không tranh chấp, không nằm trong khu vực quy hoạch, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án và đáp ứng đủ điều kiện để theo quy định của pháp luật.

Do đó, đối tượng giao dịch của hợp đồng là phù hợp quy định pháp luật.

Về thành phần hồ sơ, trình tự thủ tục công chứng:

Hồ sơ công chứng đảm bảo các giấy tờ theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, bao gồm: Phiếu yêu cầu công chứng, chứng minh nhân dân, hộ khẩu, Giấy khai sinh và Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Cẩm V3, Giấy chứng nhận kết hôn của bên được cấp tín dụng, Đơn xác nhận tình trạng bất động sản, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK602768 vào số cấp GCN số CS09537 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/12/2017, được cập nhật biến động ngày 07/01/2021, hợp đồng tín dụng, biên bản định giá, phiếu tra cứu tài sản.

Trình tự thủ tục công chứng đảm bảo đúng quy định tại Điều 40 Luật Công chứng 2014.

Như vậy, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 00818, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/14/2021 do Công chứng viên Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh M chứng nhận phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xem xét, giải quyết vụ án theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị Phương trình B:

Ông C và bà P là vợ chồng, ông bà có thuê nhà trên thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương của ông Nguyễn Văn S và vợ là bà Võ Thị Đ, việc thuê nhà có làm hợp đồng, ngày ký hợp đồng là 27/7/2020, thời hạn thuê là 05 năm từ ngày ký hợp đồng, giá thuê là 5.000.000 đồng/tháng, hàng tháng ông C, bà P trả tiền thuê cho ông S, bà Đ, trong thời gian thuê nhà đất thì không có ai đến nói là chuyển nhượng nhà đất ông C, bà P thuê, chỉ có sau này có người đến nói là đất này của họ và yêu cầu giao đất, chuyển nhà đi giao nhà cho họ, sau đó người này kêu người đến quậy phá mang đồ của ông C, bà P vứt ra ngoài, do bị quậy phá không thể làm ăn được bắt buộc ông C, bà P phải đi chứ ông C bà P không tự nguyện đi. Ngoài ra, trong thời gian ông C, bà P ở trên đất thì không có ngân hàng nào đến làm việc với ông C, bà P về việc ngân hàng nhận thế chấp thửa đất 352 ông C, bà P thuê, ông bà không biết đất thế chấp ngân hàng, việc người nhận chuyển nhượng ép buộc ông C, bà P phải đi là ngoài sự mong muốn của ông C, bà P, ông bà không đồng ý, tuy nhiên ông C, bà P không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Người đại diện của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bồi thường giá trị nhà và công trình phụ kèm theo trên

thửa đất số 352 bị tháo dỡ, cụ thể nguyên đơn yêu cầu bồi thường nhà và công trình phụ kèm theo trên thửa đất số 352 bị tháo dỡ theo kết luận tại chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T4 với số tiền yêu cầu bồi thường là 121.579.860 đồng, đối với các yêu cầu khác thì nguyên đơn giữ nguyên.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V về việc: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.

Tuyên bố các Hợp đồng ủy quyền ngày 16/7/2019 ký giữa ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ với ông Võ Chung H, được Văn phòng C (nay là Văn phòng C) công chứng số 1730, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; hợp đồng ủy quyền ngày 17/7/2019 giữa ông Võ Chung H với ông Nguyễn Quốc T1, được Văn phòng C quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/12/2020 ký giữa ông Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Cẩm V, được Văn phòng C Mới công chứng số 021305, quyển số 12-2020 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp số 4907455.21.638 ngày 20/1/2021 ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với bà Nguyễn Thị Cẩm V được Văn phòng C, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.

Kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B đăng ký biến động cấp cho bà Nguyễn Thị Cẩm V ngày 07/01/2021 đối với thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Ông Nguyễn Văn S có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (có bản vẽ kèm theo).

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn S và bà Võ Thị Đ số tiền 121.579.860 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi đồng), tương đương giá trị căn nhà và công trình phụ trên thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B mà bà V tháo dỡ.

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất từ việc cho thuê nhà trên đất tạm tính từ tháng 10/2022 đến tháng 6/2024 là 01 năm 08 tháng với số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền thuê nhà mà ông S, bà Đ bị mất do bà V tháo dỡ nhà và công trình phụ trên thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B (tiền thuê từ tháng 10/2022 đến tháng 6/2024).

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V và

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 và bà Bùi Thị Thanh K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1 và bà Bùi Thị Thanh K có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q các khoản tiền tạm tính tới ngày 27/6/2024 như sau:

Khoản tiền thứ nhất: Đối với Hợp đồng số 2221237.21 nợ gốc là 3.356.039.600, lãi trong hạn 27.846.442, lãi quá hạn 684.018.840, phạt chậm trả lãi 2.681.794 đồng, tổng cộng 4.070.586.676 đồng (bốn tỷ không trăm bảy mươi triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng).

Khoản tiền thứ hai: Đối với Hợp đồng số 7076966.21, nợ gốc là 69.811.000 đồng, lãi trong hạn là 550.837 đồng, lãi quá hạn là 16.206.641 đồng, phạt chậm trả lãi 50.434 đồng. Tổng cộng là 86.618.912 đồng (tám mươi sáu triệu sáu trăm mười tám nghìn chín trăm mười hai đồng).

Kể từ ngày 28/6/2024 cho đến khi trả nợ xong thì hàng tháng ông T1, bà K và bà V còn phải thanh toán nợ lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng số 2221237.21 và số 7076966.21 ngày 19/1/2021 ký giữa ông T1, bà K, bà V với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

3. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương để thu hồi nợ vay cho ngân hàng.

4. Đối với quan hệ vay tiền giữa ông Võ Chung H và ông Nguyễn Quốc T1 thì ông H và ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông H và ông T1 có quyền khởi kiện giải quyết quan hệ vay tiền giữa hai bên bằng một vụ án khác.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/7/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 19/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ngân hàng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người đại diện hợp pháp của bị đơn bà V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương

mại Cổ phần Q1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: các hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hoàn toàn hợp pháp, không có căn cứ để xác định các hợp đồng này là giả tạo; đồng thời, có căn cứ xác định bà V, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q là người thứ ba ngay tình. Do đó, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu độc lập của ngân hàng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn bà V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn, ông T1 và ngân hàng, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với kháng cáo của bà Bùi Thị Thanh K: bà K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà K.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt là V4) nộp trong thời hạn, có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng C Mới, Văn phòng C, Văn phòng C, Văn phòng C, ông Nguyễn Văn C, và Vũ Thị P có đơn đề nghị giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự này. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Thanh K kháng cáo, được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, coi như từ bỏ việc kháng cáo căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà K.

[1.3] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu, rút một phần đối với yêu cầu bồi thường trị giá nhà và công trình phụ kèm theo trên thửa đất số 352, tờ bản đồ số 14, tại phường H, thành

phố B, tỉnh Bình Dương với số tiền 878.420.140 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự là chưa đúng. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1:

[2.1] Đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 16/7/2019 giữa ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ và ông Võ Chung H được công chứng tại Văn phòng C, ông S, bà Đ cho rằng mục đích của việc ký kết hợp đồng ủy quyền là để ông H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp vay tiền nhưng các bên không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh, lời trình bày của các đương sự là không phù hợp với chứng cứ khách quan, thể hiện việc ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ và ông Võ Chung H đã tự nguyện lập văn bản, tại thời điểm công chứng, các ông bà có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, mục đích, nội dung văn bản công chứng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và đồng ý ký tên, điểm chỉ lên trên hợp đồng trước sự chứng kiến của công chứng viên của Văn phòng C. Như vậy, Hợp đồng ủy quyền ngày 16/7/2019 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.2] Đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 30/12/2020 giữa ông Võ Chung H và ông Nguyễn Quốc T1, ông H cho rằng ông có vay tiền của ông Nguyễn Công H2 (do ông H2 yêu cầu ký hợp đồng ủy quyền với ông T1 nên ông H mới ký với ông T1 để ủy quyền quyền sử dụng đất trên cho ông T1 để làm tin chứ ông H không chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông T1). Tuy nhiên, tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/5/2024 đối với ông Nguyễn Công H2, ông H2 khai rằng ông H2 không cho ông H vay tiền, ông H2 chỉ biết ông H vay tiền của ông T1. Trong quá trình tố tụng, ông T1 cung cấp cho Tòa án biên bản thỏa thuận ngày 17/7/2019 nội dung thể hiện ông T1 cho ông H vay số tiền 4.000.000.000 đồng, ông H ủy quyền thửa đất số 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B cho ông T1 để thế chấp cho khoản tiền vay. Hai bên có thỏa thuận là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày vay nếu ông H không trả tiền vay thì ông T1 có quyền thanh lý tài sản để thu hồi tiền về mà bên ông H không được quyền khiếu nại. Trong quá trình vay, ông H không trả bất kỳ khoản tiền lãi nào cho ông T1 nên đến ngày 30/12/2020, ông Nguyễn Quốc T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Cẩm V. Trong vụ án này, ông H và ông T1 không yêu cầu giải quyết đối với quan hệ vay mượn của hai bên nên Tòa án không đặt ra xem xét. Mặt khác, tại Điều 1 hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Đ1 cho ông Võ Chung H ngày 16/7/2019 có nội dung về phạm vi ủy quyền như sau:

“……… Bên A (ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ ủy quyền cho bên B (ông Võ Chung H) được toàn quyền thay mặt và nhân danh bên A thực hiện các công việc sau:

...Chuyển nhượng (quyết định giá chuyển nhượng, nhận tiền đặt cọc, ký hợp đồng đặt cọc, nhận tiền chuyển nhượng), tặng cho, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất, bao gồm cả việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thanh lý các hợp đồng đã ký kết”

Như vậy, ông Võ Chung H được toàn quyền quyết định đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CK 602768, số vào sổ CS09537 do Sở T cấp ngày 12/12/2017 cho ông Nguyễn Văn S. Do đó, ngày 17/7/2019, ông Võ Chung H đã ký hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất nói trên cho ông Nguyễn Quốc T1, hợp đồng ủy quyền đã được công chứng tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C) là đúng quy định của pháp luật.

[2.3] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/12/2020 giữa ông Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Cẩm V được Công chứng tại Văn phòng C Mới: Căn cứ vào nội dung ủy quyền của ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ2 cho ông Võ Chung H, ông Võ Chung H đã ủy quyền lại cho ông Nguyễn Quốc T1 nên ông T1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Cẩm V. Hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng, chứng thực và bà Nguyễn Thị Cẩm V đã được cập nhật quyền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất nêu trên ngày 07/01/2021. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Cẩm V ngày 30/12/2020 được Văn phòng C Mới công chứng số 021305, quyển số 12-2020 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu là không có căn cứ.

[2.4] Đối với yêu cầu buộc bà V phải bồi thường thiệt hại do tháo dỡ tài sản, đồ đạc nhà cửa trên đất là 121.579.860 đồng và 100.000.000 đồng tiền thuê nhà mà ông S, bà Đ2 bị mất do bà V tháo dỡ nhà, công trình phụ trên thửa đất 352 tờ bản đồ số 14 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương: Xét thấy, theo như lập luận tại mục [2.3] thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Cẩm V có hiệu lực pháp luật nên việc bà V tháo dỡ tài sản, đồ đạc trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà V nên Tòa án không có sở chấp nhận các yêu cầu bồi thường trên của ông S, bà Đ.

[3] Xét kháng cáo của V4 về việc yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của V4: Hội đồng xét xử nhận thấy, bà V, ông T1 và bà K tham gia ký Hợp đồng tín dụng số 7076966.21 và 2221237.21 với V4 là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng giữa ngân hàng với ông T1, bà V và bà K phát sinh hiệu lực pháp lý ràng buộc các bên. Tính đến ngày 23/05/2024, bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K đã trả cho V4 số tiền tổng cộng là 1.816.874.002 đồng (trong đó: nợ gốc 574.149.400 đồng, nợ lãi 1.242.724.602 đồng) và còn nợ VIB số tiền là: 4.089.677.025 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của ông T1, bà V thừa nhận khoản vay trên và đồng ý trả các khoản nợ còn lại nhưng hiện chưa có khả năng trả số tiền này. Do đó, yêu cầu độc lập của V4 là có căn cứ chấp nhận.

Các hợp đồng tín dụng này được đảm bảo thực hiện bằng hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK602768, số vào sổ CS09537 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/12/2017, cập nhật biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị Cẩm V vào ngày 07/01/2021. Ngày 20/01/2021, V4 ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Cẩm V là đúng chủ thể, tại thời điểm thế chấp, V4 đã tiến hành khảo sát và thẩm định tài sản thông qua Chứng thư thẩm định giá số 21P02TD00136 ngày 13/01/2021 của công ty thẩm định giá độc lập là Công ty Cổ phần T5. Đồng thời, tại Đơn xác nhận tình trạng bất động sản ngày 08/01/2021 của Ủy ban nhân dân phường H xác nhận “Thửa đất số 352, tờ bản đồ số 14 nêu trên do ông/bà Nguyễn Thị Cẩm V đang quản lý, sử dụng ổn định, không tranh chấp, không nằm trong quy hoạch, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án và đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật”. Hợp đồng thế chấp được Công chứng chứng thực tại Văn phòng C. Ngoài ra, giao dịch thế chấp giữa bà Nguyễn Thị Cẩm V và V4 đã được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 20/01/2021. Vì vậy, V4 yêu cầu được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 4907455.21.638 ngày 20/01/2021 là có căn cứ chấp nhận. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 4907455.21.638 ngày 20/01/2021 giữa V4 với bị đơn vô hiệu là không có căn cứ.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 và V4; không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm xét xử là chưa phù hợp nên cần sửa lại.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có căn cứ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp.

[4] Về chi phí tố tụng:

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá, chi phí sao lục hồ sơ: Tổng chi phí là 37.920.640 đồng, nguyên đơn ông S, bà Đ phải chịu.

Về chi phí giám định chữ ký: Ông Võ Chung H phải nộp số tiền 1.530.000 đồng, ông T1 đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông H phải trả lại số tiền này cho ông T1.

[5] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông S, bà Đ2 phải chịu án phí với yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn bà V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, bà K phải chịu án phí đối với yêu cầu độc lập của V4 được Tòa án chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 và V4 được chấp nhận nên không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 2 Điều 148, Điều 296, Điều 312, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Thanh K.

2. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; sửa Bản án sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 05/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương như sau:

2.1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V phải bồi thường thiệt hại do tháo dỡ tài sản, đồ đạc, nhà cửa trên thửa đất số 352, tờ bản đồ số 14, phường H, thành phố B với số tiền 878.420.140 đồng.

2.2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V về việc:

  • Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 16/7/2019 ký giữa ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ với ông Võ Chung H được Văn phòng C, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng ủy quyền ngày 17/7/2019 giữa ông Võ Chung H với ông Nguyễn Quốc T1 được Văn phòng C (nay là Văn phòng C) công chứng số 001045 quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/12/2020 ký giữa ông Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Cẩm V được Văn phòng C Mới công chứng số 021305, quyển số 12-2020 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp số 4907455.21.638 ngày 20/1/2021 ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với bà Nguyễn Thị Cẩm V được Căn phòng Công chứng Trần Thị Thanh M công chứng số 00818, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.

- Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V phải bồi thường thiệt hại do tháo dỡ tài sản, đồ đạc, nhà cửa trên thửa đất số 352, tờ bản đồ số 14, phường H, thành phố B với số tiền 121.579.860 đồng.

- Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất từ việc cho thuê nhà trên đất tạm tính từ tháng 10/2022 đến tháng 06/2024 là 01 năm 08 tháng với số tiền 100.000.000 đồng (5.000.000 đồng/tháng).

2.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q:

Tuyên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 4907455.21.638 ngày 20/01/2021 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và bà Nguyễn Thị Cẩm V, số công chứng 00818, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C có hiệu lực.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được quyền phát mãi tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đối với diện tích đất 385.2m², thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 14 tại địa chỉ: phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương đang thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 4907455.21.638 ngày 20/01/2021 để thu hồi nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 2221237.21 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 7076966.21 ngày 19/01/2021 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1, bà Bùi Thị Thanh K.

2.4. Đối với quan hệ vay tiền giữa ông Võ Chung H và ông Nguyễn Quốc T1 thì ông H và ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông H và ông T1 có quyền khởi kiện giải quyết quan hệ vay tiền giữa hai bên bằng một vụ án khác.

2.5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá, chi phí sao lục hồ sơ là 37.920.640 đồng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ phải chịu và khấu trừ hết vào số tiền ông S, bà Đ đã tạm ứng tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Về chi phí giám định chữ ký: Ông Võ Chung H phải nộp số tiền 1.530.000 đồng, ông Nguyễn Quốc T1 đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông Võ Chung H phải trả lại số tiền 1.530.000 đồng (một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) này cho ông Nguyễn Quốc T1.

2.6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn S và bà Võ Thị Đ phải chịu số tiền 11.378.993 đồng (mười một triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn chín trăm chín mươi ba đồng), được khấu trừ vào tổng số tiền 23.400.000 đồng (hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001075 ngày 4/10/2022, số 0001074 ngày 4/10/2022, số 0011546 ngày 10/7/2023 và số 0012469 ngày 26/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương trả lại cho ông Nguyễn Văn S, bà Võ Thị Đ số tiền 12.021.007 đồng (mười hai triệu một trăm hai mươi mốt nghìn không trăm không bảy đồng) còn dư.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 54.668.000 đồng (năm mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011638 ngày 24/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm V, ông Nguyễn Quốc T1 mỗi người 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng đã nộp tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000630, 00006301 cùng ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000651 ngày 24/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát.

Bà Bùi Thị Thanh K phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000632 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - TAND thành phố Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Huỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 188/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số quyết định: 188/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger