Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/DS-PT

Ngày 09 tháng 9 năm 2024

V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, Bà Triệu Thị Luyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong các ngày 25/7/2024, ngày 19/8/2024 và ngày 09/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 20/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 184/2024/QĐ-PT ngày 14/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 180/2024/QĐ-PT ngày 26/6/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 121/2024/QĐ-PT ngày 25/7/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 134/2024/QĐ-PT ngày 19/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lý Văn C, sinh năm 1960 (Chết năm 2021)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C là:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972.
  2. Chị Lý Thị Hải C1, sinh năm 2003.

Đại diện theo uỷ quyền của chị C1 là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972.

  1. Chị Lý Thị Hải T1, sinh năm 2009.

Địa chỉ của bà T, chị C1 và chị T1: Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người giám hộ đương nhiên của chị T1 là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972.

  1. Chị Lý Thị Thùy N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ F K, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
  2. Anh Lý Minh Q, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
  3. Lý Văn M, sinh năm 1987. Địa chỉ: thôn Q, xã Q, Thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Ông Lý Văn K, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông K là Luật sư Trần Văn T2- Công ty L3

Địa chỉ: Số E, đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lý Văn S, sinh năm 1955. Địa chỉ: số nhà G đường số F, phường A quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo uỷ quyền của ông S là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972.

  1. Bà Lý Thị S1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn P, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  3. UBND thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Do bà Thân Thị L. Chức vụ: Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường thị xã V là đại diện theo ủy quyền.
  4. UBND phường Nếnh, thị xã V. Người đại diện: Ông Nguyễn Văn V- chức vụ: Chủ tịch.

(Bà Nguyễn Thị T, ông Lý Văn K và Luật sự Trần Văn T2 có mặt, các đương sự khác vắng mặt)

Người kháng cáo: Ông Lý Văn K.

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn là ông Lý Văn C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Công trình B1:

Bố mẹ ông C là cụ Lý Văn T3 sinh năm 1930, chết năm 2009; cụ Nguyễn Thị G sinh năm 1924, chết năm 2019. Hai cụ sinh được 4 người con.

  1. Lý Văn S, sinh năm 1955.
  2. Lý Văn C, sinh năm 1960, chết năm 2021.
  3. Lý Văn K, sinh năm 1970.
  4. Lý Thị S1, sinh năm 1972.

Hai cụ không có bố mẹ nuôi và con nuôi nào khác.

Hai cụ khi chết không để lại di chúc nhưng để lại di sản thừa kế là Quyền sử dụng diện tích đất 782,9m² (đo đạc thực tế 705,7m²) cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017, địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc tài sản trên là do ông cha để lại và có một phần đổi của bà Nguyễn Thị P.

Ông C yêu cầu Toà án Chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn T3 và Nguyễn Thị G để lại quyền sử dụng diện tích đất 705,7m² cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần, tầng hai lợp chống nóng có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 chia cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3 và cụ G là 4 người gồm ông Lý Văn S, ông Lý Văn C, ông Lý Văn K và bà Lý Thị S1 (mỗi người được ¼ giá trị tài sản).

Vào năm 2015 vợ chồng ông K và vợ là bà B đã xây dựng dãy nhà trọ 2 tầng cấp 3 loại 3 có diện tích tầng 1 là 124,3m². Đề nghị giao phần đất có nhà trọ cho ông K và bà B.

Bị đơn ông Lý Văn K có mặt tại phiên tòa trình bày:

Bố mẹ tôi là cụ Lý Văn T3 sinh năm 1930, chết năm 2009; cụ Nguyễn Thị G sinh năm 1924, chết năm 2019. Hai cụ sinh được 4 người con.

  1. Lý Văn S, sinh năm 1955.
  2. Lý Văn C, sinh năm 1960, chết năm 2021.
  3. Lý Văn K, sinh năm 1970.
  4. Lý Thị S1, sinh năm 1972.

Hai cụ không có bố mẹ nuôi và con nuôi nào khác.

Nay ông C đề nghị Toà án chia di sản của thừa kế của cụ Lý Văn T3 và Nguyễn Thị G để lại theo pháp luật đối với quyền sử dụng diện tích đất 705,7m² cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần, tầng hai lợp chống nóng có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017.

Ông K không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông C và của hàng thừa kế thứ nhất của ông C. Với lý do:

Cụ Trạch và cụ G chết đi có để lại di chúc cho vợ chồng ông toàn bộ di sản thừa kế là Quyền sử dụng diện tích là 627m² (đo đạc thực tế là 622m²) cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc tài sản trên là do ông cha để lại và đổi của bà Nguyễn Thị P. Ông K xác định tài sản trên là di sản thừa kế của bố mẹ ông K di chúc lại cho ông K.

Tại phiên toà ông K bổ sung lý do mà ông K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện đó là diện tích đất 622m² là do cha ông để lại cho bố mẹ ông để làm nơi thờ cúng. Do ông K là con trai út và ở với bố mẹ nên bố mẹ ông K cho ông K ở thửa đất này. Hai anh trai ông K đã được hợp tác xã chia đất và đã ra ở riêng từ khi xây dựng gia đình. Vào năm 2015 ông K và vợ là bà B đã xây dựng dãy nhà trọ 2 tầng cấp 3 loại 3 xây năm 2015 có diện tích 1 tầng là 124,3m².

Đối với phần đất tiếp giáp với đường nhựa của tổ dân phố là 95,4 m², phần đất này do vợ chồng ông khai hoang nên thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C. Do ông C chết năm 2021 nên đề nghị chia phần thừa kế của ông Lý Văn C được hưởng cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lý Văn C gồm bà Nguyễn Thị T, chị Lý Thị Hải C1, chị Lý Thị Hải T1, chị Lý Thị Thùy N, anh Lý Văn M và anh Lý Minh Q mỗi người được 1/6 giá trị tài sản. Bà T đề nghị chia cho bà Nguyễn Thị T, chị Lý Thị Hải C1, chị Lý Thị Hải T1 bằng đất tương đương với 3/6 di sản thừa kế của ông C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C là chị Lý Thị Thùy N, anh Lý Minh Q và anh Lý Văn M trình bày:

Bố mẹ chị N, anh M và anh Q là ông Lý Văn C, sinh năm 1960, chết năm 2021 và bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1958.

Trong thời kỳ hôn nhân, bố mẹ anh chị sinh được 3 người con:

  1. Chị Lý Thị Thùy N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ F K, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
  2. Anh Lý Minh Q, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
  3. Anh Lý Văn M, sinh năm 1987. Địa chỉ: thôn Q, xã Q, Thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Bố mẹ anh, chị không có bố mẹ nuôi, con nuôi và con ngoài giá thú nào khác. Năm 1998, bố mẹ anh, chị ly hôn. Sau đó ông C kết hôn với bà Nguyễn Thị T. Năm 2021, ông C chết nhưng không để lại di chúc. Khi còn sống, ông C khởi kiện yêu cầu Toà án: Chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn T3 và Nguyễn Thị G để lại là quyền sử dụng diện tích đất 782,9m² (đo đạc thực tế 705,7m²) cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 chia cho 4 người gồm ông Lý Văn S, ông Lý Văn C, ông Lý Văn K và bà Lý Thị S1 (mỗi người được ¼ giá trị tài sản). Chị N, anh M và anh Q đồng ý. Đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.

Do ông C chết năm 2021, nên chị N và anh Q đề nghị chia phần di sản của ông C được hưởng theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của ông C (gồm 6 người) mỗi người được 1/6 di sản thừa kế. Chị N và anh Q đề nghị chia cho chị N và anh Q được hưởng 2/6 di sản thừa kế của ông C để lại. Chị N và anh Q đề nghị chia cho anh, chị bằng đất.

Anh M không đề nghị chia di sản thừa kế của ông C để lại cho anh M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Văn S do bà Nguyễn Thị T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bố mẹ ông S là cụ Lý Văn T3 sinh năm 1930, chết năm 2009; cụ Nguyễn Thị G sinh năm 1924, chết năm 2019. Hai cụ sinh được 4 người con.

  1. Lý Văn S, sinh năm 1955.
  2. Lý Văn C, sinh năm 1960, chết năm 2021.
  3. Lý Văn K, sinh năm 1970.
  4. Lý Thị S1, sinh năm 1972.

Hai cụ không có bố mẹ nuôi và con nuôi nào khác.

Hai cụ khi chết không để lại di chúc nhưng để lại di sản thừa kế là Quyền sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế là 705,7m² cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc tài sản trên là do ông cha để lại và đổi của bà Nguyễn Thị P.

Vào năm 2015, vợ chồng ông K và bà B đã xây dựng dãy nhà trọ 2 tầng cấp 3 loại 3 xây năm 2015 có diện tích tầng 1 là 124,3m².

Ông C yêu cầu Toà án chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn T3 và Nguyễn Thị G để lại là quyền sử dụng diện tích đất 782,9m² (đo đạc thực tế 705,7m²) cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,7m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 chia cho 4 người gồm ông Lý Văn S, ông Lý Văn C, ông Lý Văn K và bà Lý Thị S1 (mỗi người được ¼ giá trị tài sản). Ông S đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C. Ông S đề nghị Toà án chia di sản thừa kế theo pháp luật. Với lý do cụ T3, cụ G và ông C chết đi nhưng không ai để lại di chúc. Bản di chúc ngày 04/6/2008 là bản phô tô nên không có giá trị pháp lý. Việc ông K trình bày trong số 705,7m² đất thì có 95,4m² đất ở vị trí giáp đường thôn là do vợ chồng ông K khai hoang. Quan điểm của ông S là toàn bộ thửa đất đo đạc thực tế là 705,7 m² là di sản thừa kế của cụ T3 và cụ G để lại. Không có việc ông K khai hoang.

Ông S xác định di sản thừa kế của của cụ T3 và cụ G để lại là quyền sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế 705,7m² cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017. Cụ T3 và cụ G chết đi không để lại di chúc.

Đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của cụ T3 và cụ G theo pháp luật. Đề nghị chia cho ông S ¼ giá trị tài sản và đề nghị chia cho ông S bằng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lý Thị S1 trình bày:

Bố mẹ bà S1 là cụ Lý Văn T3 sinh năm 1930, chết năm 2009; cụ Nguyễn Thị G sinh năm 1924, chết năm 2019. Hai cụ sinh được 4 người con.

  1. Lý Văn S, sinh năm 1955.
  2. Lý Văn C, sinh năm 1960, chết năm 2021.
  3. Lý Văn K, sinh năm 1970.
  4. Lý Thị S1, sinh năm 1972.

Hai cụ không có bố mẹ nuôi và con nuôi theo quy định.

Bà S1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C về việc chia di sản thừa kế của cụ T3 và cụ G, không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà T, chị C1, chị T1, chị N và anh Q về việc đề nghị chia di sản thừa kế của ông C với ký do: cụ T4 và cụ G chết đi có để lại di chúc cho vợ chồng ông K và bà B toàn bộ di sản thừa kế của cụ T3 và cụ G để lại là toàn bộ quyền sử dụng diện tích đất 627m² (theo bản đồ đo đạc 2017 là 622m²) cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017. Diện tích đất 622m² là do cha ông để lại cho bố mẹ ông để làm nơi thờ cúng. Do ông K là con trai út và ở với bố mẹ nên bố mẹ ông K cho ông K ở thửa đất này để tiếp tục thờ cúng tổ tiên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lý Thị Hải C1, chị Lý Thị Hải T1 do bà Nguyễn Thị T là đại diện theo ủy quyền trình bày: Nhất trí với lời trình bày của bà T. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà B kết hôn với ông K năm 1994. Sau khi kết hôn thì bà về làm dâu nhà cụ T3 và cụ G ngay tại tổ dân phố H. Quá trình chung sống thì hai vợ đã tạo lập được ngôi nhà trọ 2 tầng; tường bao; 01 cây lộc vừng; 01 Cây cau; 02 Cây Xoài; 01 Cây khế.

Bà B không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông C và của hàng thừa kế thứ nhất của ông C. Với lý do:

Cụ Trạch và cụ G chết đi có để lại di chúc cho vợ chồng bà toàn bộ di sản thừa kế là quyền sử dụng diện tích là 627m² (đo đạc thực tế là 622m²) cùng ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với phần đất tiếp giáp với đường nhựa của tổ dân phố là 95,4m², phần đất này do vợ chồng bà khai hoang nên thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND phường Nếnh, thị xã V do ông Đỗ Văn L1 - Chức vụ: Chủ tịch là đại diện có ý kiến:

Về nguồn gốc thửa đất: Theo thông tin bản đồ địa chính xã H đo đạc năm 2002 thì thửa số 151, tờ bản đồ số 09, diện tích 627m² đo đạc bản đồ năm 2002–2003 tại địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (kết quả đo đạc bản đồ năm 2017 là thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26, diện tích 622m²). Chủ sử dụng ông Lý Văn T3 và bà Nguyễn Thị G có nguồn gốc của ông cha để lại. Hiện thửa đất trên chưa được cấp giấy CNQSDĐ, do vậy chưa xác định được đất ở và đất vườn trên tổng diện tích đất là bao nhiêu.

Về nguồn gốc diện tích 95,4m2 đất phần tiếp giáp với đường nhựa của tổ dân phố và nằm ngoài thửa đất 574, tờ bản đồ số 26, diện tích 622m2. Diện tích 95,4m2 có nguồn gốc là đất ao của tập thể. Năm 2016 Nhà nước làm đường nhựa giao thông đã quy hoạch phần đất này thuộc dự án đường giao thông nhưng chưa xử dụng đến. Hiện vợ chồng ông K đang sử dụng là do lấn chiếm từ thời điểm sau khi làm đường, không phải là đất do vợ chồng ông K khai hoang. Đề nghị Toà án không giao hoặc công nhận diện tích 95,4m2 trên cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã V Do bà Thân Thị L. Chức vụ: Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường thị xã V là đại diện theo ủy quyền có ý kiến như sau:

Thửa đất đang tranh chấp là thửa số 151, tờ bản đồ số 09, diện tích 627m² đo đạc bản đồ năm 2002 – 2003 tại địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (kết quả đo đạc bản đồ năm 2017 là thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26, diện tích 622m²). Thửa đất trên chưa được cấp Giấy CNQSDĐ. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 20/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Văn C đối với bị đơn ông Lý Văn K về việc chia di sản thừa kế.

1.1 Giao cho ông Lý Văn S quyền sử dụng 152,5m² đất (có giá trị 1.525.000.000đ) thuộc thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017, địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (có ký hiệu là A1; A2; A3; A4; A5; A6; A7; A8; A9).

Ông Lý Văn S được quyền sở hữu, sử dụng tài sản trên đất là bức tường bao xây gạch tường 110 bổ trụ 220 (có ký hiệu là A5; A6; A7; A24); tường bao xây dựng bằng inox có ký hiệu là A24; A25); phần đổ bê tông phía người tường rào (có ký hiệu là A24; A25; A33; A34) và một cây khế.

Ông Lý Văn S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lý Văn K và bà Nguyễn Thị B 18.963.100đ (Mười tám triệu chín trăm sáu mươi ba nghìn một trăm đồng) giá trị tài sản trên đất.

Tạm giao cho ông S sử dụng phần diện tích 29,3m² nằm ngoài thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 và nằm trong tường rào inox (có ký hiệu là A7; A8; A9; A24; A25).

1.2. Giao cho ông Lý Văn K quyền sử dụng 152,5m² đất (có giá trị là 1.525.000.000đ) thuộc thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017, địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V và ngôi nhà 1 tầng đổ trần có diện tích 64,6m² (có giá trị là 105.621.000đ). Tổng cộng đất và tài sản trên đất là: 1.630.621.000đ. Ông K được tiếp tục sử dụng phần diện tích mà bà S1 không đề nghị chia là 152,5m² và phần diện tích mà anh M không đề nghị chia là 25,41m². (có ký hiệu là A1; A10; A11; A12; A14; A15; A16; A17; A18; A19; A20; A21; A22; A23).

Tạm giao cho ông Lý Văn K sử dụng phần diện tích 34,6m² nằm ngoài thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 và nằm trong tường rào inox (có ký hiệu là A16; A27; A28; A29; A17).

1.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T, chị Lý Thị Thùy N và anh Lý Minh Q về việc chia di sản thừa kế của ông C để lại.

Giao cho bà Nguyễn Thị T, chị Lý Thị Hải C2 và chị Lý Thị Hải T1 quyền sử dụng 76,2m² đất (có giá trị là 762.000.000đ) thuộc thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017, địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (có ký hiệu là A9; A10; A11; A12; A13). Bà Nguyễn Thị T, chị Lý Thị Hải C2 và chị Lý Thị Hải T1 được sở hữu, sử dụng tài sản trên đất là bức tường bao xây dựng bằng inox tiếp giáp với đường đi của thôn (có ký hiệu là A25; A26) và phần bê tông 16,6m² nằm ngoài tường rào inox (có ký hiệu là A25; A26; A35; A33). Bà Nguyễn Thị T, chị Lý Thị Hải C2 và chị Lý Thị Hải T1 có nghĩa vụ hoàn trả ông Lý Văn K và bà Nguyễn Thị B 5.880.000đ (Năm triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) giá trị tài sản trên đất.

Tạm giao cho bà Nguyễn Thị T, chị Lý Thị Hải C2 và chị Lý Thị Hải T1 sử dụng phần diện tích 16,1m² nằm ngoài thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 và nằm trong tường rào inox (có ký hiệu là A9; A25; A26; A13).

Giao cho chị Lý Thị Thùy N và anh Lý Minh Q quyền sử dụng 50,8m² đất (có giá trị là 508.000.000đ) thuộc thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017, địa chỉ: tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (có ký hiệu là A12; A14; A15; A16; A13). Chị Lý Thị Thùy N và anh Lý Minh Q được sở hữu, sử dụng tài sản trên đất là bức tường bao xây dựng bằng inox tiếp giáp với đường đi của thôn (có ký hiệu là A26; A27) và phần bê tông 14,1m² nằm ngoài tường rào inox (có ký hiệu là A26; A27; A31; A32); 02 Cây Xoài và 01 Cây lộc vừng. Chị Lý Thị Thùy N và anh Lý Minh Q có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lý Văn K và bà Nguyễn Thị B 12.615.000đ (Mười hai triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) giá trị tài sản trên đất.

Tạm giao cho chị Lý Thị Thùy N và anh Lý Minh Q sử dụng phần diện tích 15,4m² nằm ngoài thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26 đo đạc năm 2017 và nằm trong tường rào inox (có ký hiệu là A13; A16; A27; A26).

(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo)

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án dân sự .

Ngày 04/3/2024, ông Lý Văn K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm.

Quyết định kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 19/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, đề nghị hủy Bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 20/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên giải quyết lại vụ án.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 19/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.

+ Bị đơn là ông Lý Văn K cung cấp bản di chúc của cụ G (bản gốc), ông vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông.

+ Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Tân G2 nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà T không nộp thêm tài liệu chứng cứ gì.

+ Anh Lý Văn D và chị Lý Thị L2 là con của ông Lý Văn K trình bày: Chị L2 đi du học có gửi tiền về để xây nhà trọ và tân tạo đất. Anh D có công sức tân tạo đất. Nhưng Tòa án sơ thẩm không đưa anh chị vào tham gia tố tụng trong vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm anh D và chị L2 đề nghị xem xét công sức đóng góp của mình khi Tòa án chia di sản thừa kế của các cụ.

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Bản án sơ thẩm không khách quan, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông K.

Bản án sơ thẩm giao kỷ phần của bà S1 và anh M cho ông K nhưng trong hồ sơ không có nội dung về việc từ chối nhận di sản của bà S1 và anh M. Không đưa các con của ông K là anh Lý Văn D và chị Lý Thị L2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vì anh D và chị L2 có công sức đóng góp tân tạo đối với di sản của các cụ. Cấp sơ thẩm không hỏi bị đơn có công sức tân tạo như thế nào đối với di sản nhưng trong bản án lại tuyên chia công sức cho ông K. Không xác định diện tích đất ở và đất vườn là bao nhiêu, định giá đất là 10.000.000 đồng/m². Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vụ án.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản khoản 3 Điều 308, Điều 310- Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là chị Lý Thị Thùy N, anh Lý Minh Q, anh Lý Văn M; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lý Thị S1, UBND thị xã V và UBND phường N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét kháng cáo của ông Lý Văn K, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về việc đưa thiếu người tham gia tố tụng:

Ngày 10/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (Nay là thị xã V) thụ lý vụ án theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lý Văn C đối với bị đơn là cụ Nguyễn Thị G và ông Lý Văn K về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn T3 để lại. Ngày 08/8/2019, cụ Nguyễn Thị G chết. Sau khi cụ G chết thì Tòa án sơ thẩm không xác định và đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ G vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Lý Văn K xác định các con của ông là anh Lý Văn D và chị Lý Thị L2 có công sức đóng góp tân tạo đất là di sản và xây dựng công trình trên đất. Tòa án sơ thẩm không tiến hành làm việc lấy lời khai của anh D và chị L2, không đưa anh D và chị L2 vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Tòa án sơ thẩm không đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ G, không đưa các con của ông K là anh D và chị L2 vào tham gia tố tụng trong vụ án là không đảm bảo và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, vi phạm Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc đưa thiếu người tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

[2.2] Tại phiên tòa bị đơn là ông Lý Văn K cung cấp tài liệu chứng cứ mới là bản di chúc của cụ Nguyễn Thị G. Cấp phúc thẩm không thể xem xét đối với chứng cứ mới này vì không đảm bảo chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.3] Ngoài ra bản án sơ thẩm còn có một số vi phạm:

Theo sơ đồ lồng ghép giữa hiện trạng và bản đồ địa chính thì thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26: Tổng diện tích đất hiện trạng 705,7m² (gồm: phần diện tích đất 610,3m²; phần diện tích đất ông K khai là do vợ chồng ông khai hoang 95,4m²). Diện tích đất ranh giới theo bản đồ năm 2016 là 622m². UBND phường Nếnh cung cấp: Theo bản đồ địa chính xã H đo đạc năm 2002, thửa đất số 151, tờ bản đồ số 9, diện tích 627m²; là thửa đất số 574, tờ bản đồ số 26, diện tích 622m², đo đạc năm 2017. Chủ sử dụng là cụ T3 và cụ G. Phần diện tích đất 95,4m² tiếp giáp với đường nhựa và nằm ngoài thửa đất 574; có nguồn gốc là đất ao của tập thể. Năm 2016, Nhà nước làm đường giao thông đã quy hoạch phần đất này thuộc dự án đường giao thông nhưng chưa sử dụng đến. Hiện vợ chồng ông K đang sử dụng là do lấn chiếm sau khi đã quy hoạch làm đường, không phải đất do vợ chồng ông K khai hoang. Đề nghị Tòa án không giao hoặc công nhận diện tích 95,4m² trên cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Nhưng Bản án sơ thẩm lại tuyên là tạm giao cho các đương sự sử dụng phần diện tích đất 95,4m² (ông S 29,3m²; ông K1 34,6m², bà T, chị C2, chị T1 16,1m², chị N, anh Q 15,4m²) là vi phạm Điều 59 của Luật Đất Đai năm 2013.

Bản án sơ thẩm giao ông K được tiếp tục sử dụng phần diện tích mà bà S1 không đề nghị chia là 152,5m² và phần diện tích mà anh M không đề nghị chia là 25,41m² nhưng trong hồ sơ vụ án không có nội dung về việc bà S1 và anh M từ chối nhận di sản. Bản án sơ thẩm quyết định như vậy là vi phạm quyền quyết định và tự định đoạt của bà S1 và anh M theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án sơ thẩm không hỏi và không làm rõ về công sức tôn tạo của ông K như thế nào đối với di sản nhưng Bản án lại tuyên chia công sức cho ông K là không có căn cứ.

Tiến hành định giá đối với di sản, Hội đồng định giá quyết định giá đất 10.000.000 đồng/m² nhưng lại không xác định là loại đất gì là không đảm bảo quy định tại Điều 10 của Luật Đất đai năm 2013.

Tổng cộng giá trị tài sản ông K được chia là 3.409.721.000 đồng. Theo quy định tại danh mục mức án phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì ông K phải chịu số tiền án phí là: 72.000.000 đồng + (1.409.721.000₫ x 2%)= 100.194.000 đồng. Nhưng Tòa án lại buộc ông K phải chịu 61.891.860 đồng án phí là không đúng.

Tại Điều 1- Luật trẻ em quy định: Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Chị T1 sinh ngày 25/6/2009. Tính đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án (ngày 20/02/2024), chị T1 dưới 16 tuổi, là trẻ em. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị T1 thuộc trường hợp được miễn án phí. Nhưng Tòa án không miễn án phí cho chị T1. Vẫn buộc chị T1 phải chịu án phí cùng với bà T, chị C1 tổng cộng là 34.480.000đ, là không đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho chị T1.

[2.4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Lý Văn K và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS- ST ngày 20/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: Do hủy án sơ thẩm nên án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng được xác định lại khi Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên ông K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Lý Văn K và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DSST ngày 20/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: Sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lý Văn K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả ông Lý Văn K 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003371 ngày 04/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân thị xã Việt Yên;
  • - Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 185/2024/DS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số quyết định: 185/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger