|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 625/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-9-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lệ Thu;
- Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 411/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/06/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 456/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Võ Nguyễn Chí T, sinh năm 1983; Địa chỉ thường trú: Số C L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tú T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A Hẻm C N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/05/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Nguyễn Chí T trình bày:
Ông T và bà Nguyễn Thị Tú T1 qua tìm hiểu được 06 năm thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Thanh T2 trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình, rượu chè cờ bạc làm ăn thua lỗ gây ra nợ nần, từ đó vợ chồng không còn tiếng nói chung. Cả hai đã cùng nhau khắc phục nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện tại, ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn, tiếp tục quan hệ hôn nhân cũng không mang đến hạnh phúc nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tú T1.
Về con chung: Ông Võ Nguyễn Chí T xác nhận, quá trình chung sống ông T và bà Nguyễn Thị Tú T1 có 02 (Hai) con chung, họ tên là: Võ Nguyễn Đăng K (Giới tính: Nam), sinh ngày 28/02/2011 và Võ Nguyễn Mộc H (Giới tính: Nữ), sinh ngày 02/08/2017. Sau khi ly hôn, ông T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Võ Nguyễn Đăng K không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con chung; bà T1 sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Võ Nguyễn Mộc H, ông T không cấp dưỡng nuôi trẻ H.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Nguyễn Chí T xác định lại các yêu cầu như trên. Đồng thời ông T trình bày thêm: Tình trạng hôn nhân của ông T và bà T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, căng thẳng, đời sống chung không thể kéo dài. Một phần nguyên nhân mâu thuẫn khác nữa là do cả hai đều không chung thủy nên không thể quay về sống chung được nữa và cả hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Đối với, lý do bà T1 không đồng ý ly hôn với ông T tại thời điểm này mà yêu cầu sau một năm xả tang mẹ chồng và muốn nhìn con lớn thêm chút nữa mới yên tâm thì bà T1 đồng ý ly hôn là không phù hợp. Vì thực tế, ông T và bà T1 không còn yêu thương chăm sóc nhau, không còn tình cảm vợ chồng, ông muốn chấm dứt về mặt pháp lý là ly hôn với bà T1, còn bà T1 muốn xả tang hay thăm nom chăm sóc gia đình chồng và con chung thì đó là quyền của bà T1, ông T không ngăn cản. Đề nghị Tòa án cho ông được ly hôn với bà T1 để ông sớm ổn định cuộc sống.
Ngoài ra, ông T không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Tú T1 trình bày:
Bà T1 thống nhất xác nhận và đồng ý với phần trình bày của ông T về thời gian tìm hiểu và quá trình tiến đến hôn nhân. Vợ chồng hoàn toàn yêu thương nên tự nguyện tiến tới hôn nhân và có tổ chức lễ cưới theo quy định.
Sau khi đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2009, đăng ký ngày 28 tháng 08 năm 2009) thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T rượu chè, cờ bạc, làm ăn thua lỗ, cả hai thường xuyên mâu thuẫn cãi vã từ từ không quan tâm đến nhau, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Vợ chồng đã khắc phục nhưng không có kết quả và quyết định sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại ông T yêu cầu ly hôn với bà T1 thì bà T1 không đồng ý ly hôn, bà sẽ đồng ý ly hôn với ông T sau một năm nữa khi bà xả tang mẹ chồng xong để bà thực hiện tròn lời hứa với người đã mất khi còn là con dâu sẽ cố gắng lo lắng, chăm sóc cho nhà chồng thì bà mới yên tâm ly hôn. Cả gia đình chồng cũng khuyên nhủ bà đừng ly hôn để ổn định lại cuộc sống sau khi mẹ chồng mất.
Về con chung: Bà xác nhận giữa bà và ông T có 02 (Hai) con chung là Võ Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/02/2011 (Giới tính: Nam) và Võ Nguyễn Mộc H, sinh ngày 02/08/2017 (Giới tính: Nữ).
Nếu Tòa giải quyết ly hôn thì bà đề nghị giao trẻ Võ Nguyễn Mộc H cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi trẻ H. Bà đồng ý giao trẻ Võ Nguyễn Đăng K cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà T1 không cấp dưỡng nuôi trẻ K. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, bà T1 vẫn giữ nguyên ý kiến như nêu trên. Bà T1 trình bày thêm: mặc dù không còn tình cảm vợ chồng với nhau nữa nhưng bà mong ông T suy nghĩ lại về quá trình vợ chồng tiến đến hôn nhân, về những gì bà đã làm cho ông T, suy nghĩ về cái nghĩa cái tình mà cho bà thêm một năm nữa, sau khi xả tang mẹ chồng, quan sát, nhìn thấy con trai lớn thêm chút nữa bà mới yên tâm ly hôn.
Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì về con chung: Bà đồng ý với ý kiến của ông T về việc nuôi con chung, cụ thể là: Bà sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Võ Nguyễn Mộc H; bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi trẻ H. Ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Võ Nguyễn Đăng K, bà T1 không cấp dưỡng nuôi trẻ K.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra, bà T1 không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Về xác định tư cách tham gia tố tụng; Xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn ông Võ Nguyễn Chí T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Tú T1 và bà T1 đang cư trú tại Quận G; Đây là tranh chấp về ly hôn là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi đương sự có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2009. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2009 đăng ký ngày 28 tháng 08 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở để xác định ông T và bà T1 là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
Về yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tú T1 của ông Võ Nguyễn Chí T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự cũng đều thừa nhận: vợ chồng sống chung hạnh phúc được 07 năm thì phát sinh những mâu thuẫn là do ông T rượu chè, cờ bạc, làm ăn thua lỗ, vợ chồng không quan tâm đến nhau, không còn tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, bất hòa và cả hai đều không chung thủy. Vợ chồng đã khắc phục nhưng không được. Hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay vẫn sống ly thân, cả hai đều có cuộc sống riêng không ai còn quan tâm đến ai và tình cảm vợ chồng không còn. Đây là các tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án căn cứ những nguyên nhân mâu thuẫn nêu trên làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Theo các nguyên nhân mâu thuẫn do ông T và bà T1 trình bày có cơ sở xác định mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng, trên thực tế không còn phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không sống chung, không còn yêu thương, chia sẻ với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà T1 cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Đồng thời, cả hai đương sự xác định không còn tình cảm với nhau nên yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Đối với ý kiến của bà T1 về việc hiện tại bà T1 không đồng ý ly hôn, đề nghị ông T và Tòa án cho bà thêm thời gian 01 năm nữa khi xả tang mẹ chồng xong, nhìn con lớn thêm một chút nữa bà mới yên tâm ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân là dựa trên sự tự nguyện, cả hai vợ chồng cùng nhau xây dựng vun đắp trên cơ sở yêu thương nhau. Trong khi đó thực tế ông T và bà T1 đã ly thân từ năm 2020 đến nay, lý do bà T1 không đồng ý ly hôn là không xuất phát từ việc bà T1 muốn đoàn tụ với ông T, không xuất phát từ tình yêu thương vợ chồng, không phù hợp với quy định pháp luật như nhận định nêu trên nên không có cơ sở xem xét chấp nhận.
[3.2] Về nuôi con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sự xác nhận của ông T và bà T1, có đủ cơ sở xác định: Bà Nguyễn Thị Tú T1 và ông Võ Nguyễn Chí T có 02 (Hai) con chung, họ tên là: Võ Nguyễn Đăng K (Giới tính: Nam), sinh ngày 28/02/2011 và Võ Nguyễn Mộc H (Giới tính: Nữ), sinh ngày 02/08/2017. Hiện tại trẻ Võ Nguyễn Mộc H đang sống với bà T1 và trẻ Võ Nguyễn Đăng K đang sống với ông T.
Ông T và bà T1 thống nhất thỏa thuận: giao trẻ Võ Nguyễn Mộc H cho bà T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao trẻ Võ Nguyễn Đăng K cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T và bà T1 về việc không yêu cầu người còn lại phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật, việc giao ông T, bà T1 mỗi người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 01 con chung thực tế đang do ông T, bà T1 thực tế chăm sóc, nuôi dưỡng là đảm bảo cho trẻ phát triển lành mạnh, hài hòa về thể chất và tinh thần, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con chung nên chấp nhận.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hàng tháng: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 tự nguyện không yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.3] Về tài sản chung: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 xác nhận không có, nên Hội đồng xét xử không xét.
[3.4] Về nợ chung: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về án phí: Ông Võ Nguyễn Chí T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[5] Quyền kháng cáo: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).
-
Về con chung: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 xác nhận có 02 (Hai) con chung, họ tên là: Võ Nguyễn Đăng K (Giới tính: Nam), sinh ngày 28/02/2011 hiện trẻ K đang sống cùng ông T và trẻ Võ Nguyễn Mộc H (Giới tính: Nữ), sinh ngày 02/08/2017, hiện trẻ H đang sống cùng bà T1.
Sau khi ly hôn, ông T và bà T1 thỏa thuận: Giao ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Võ Nguyễn Đăng K; Giao bà T1 sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Võ Nguyễn Mộc H. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T và bà T1 về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì quyền lợi của con, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 xác nhận không có.
- Về nợ chung: Ông Võ Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Tú T1 xác nhận không có.
- Án phí sơ thẩm: ông Võ Nguyễn Chí T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0019507 ngày 26/06/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Nguyễn Chí T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
-
Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên) |
Quyết định số 625/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số quyết định: 625/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ba Tr thuan tinh ly hôn voi ông Ng
