Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 183/2024/QÐST-HNGĐ

Hạ Long, ngày 19 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Căn cứ các điều 5, 212, 213, 149 và khoản 4 Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55, Điều 58, các khoản 1 và 2 Điều 81, các điều 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 4, khoản 2 Điều 17 của Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2024/TLST-VDS ngày 11 tháng 7 năm 2024 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con khi ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Những người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

  1. Anh Dương Văn T, sinh năm 1975; nơi thường trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;
  2. Chị Vũ Thị H, sinh năm 1977; nơi thường trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ B, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh Dương Văn T và chị Vũ Thị H có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 3 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp.

[2] Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống hàng ngày không có tiếng nói chung, không quan tâm, tin tưởng nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã. Năm 2016, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng và chị H đã chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hai bên nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cùng thống nhất thuận tình ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận.

[3] Về con chung: vợ chồng có 02 (hai) con chung là Dương Vũ H1, sinh ngày 17/5/2004 và Dương Vũ Nhật H2, sinh ngày 09/7/2009. Nay ly hôn, anh chị thống nhất: anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Dương Vũ Nhật H2 kể từ khi có quyết định ly hôn của Tòa án cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh T. Con chung Dương Vũ H1 đã thành niên (đủ 18 tuổi) và không bị nhược điểm về thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Tòa án công nhận.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về lệ phí: anh T và chị H thống nhất anh T là người nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

[6] Sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nội dung thỏa thuận đó là có căn cứ và hợp pháp.

[7] Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự nêu trên được ghi trong Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 09 tháng 8 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

[8] Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: anh Dương Văn T và chị Vũ Thị H cùng thỏa thuận thống nhất thuận tình ly hôn.
  • - Về việc nuôi dưỡng con chung: anh Dương Văn T và chị Vũ Thị H có 02 con chung là Dương Vũ H1, sinh ngày 17/5/2004 và Dương Vũ Nhật H2, sinh ngày 09/7/2009.
  • Nay ly hôn, anh chị thống nhất: anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Dương Vũ Nhật H2 kể từ khi có quyết định ly hôn của Tòa án cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh T và có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
  • Con chung Dương Vũ H1 đã thành niên (đủ 18 tuổi) và không bị nhược điểm về thể chất lẫn tinh thần nên anh T và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và công nợ chung: anh Dương Văn T và chị Vũ Thị H không có tài sản chung, không vay nợ chung đối với cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về các vấn đề khác: anh Dương Văn T và chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về lệ phí Tòa án: anh Dương Văn T là người chịu toàn bộ tiền lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001003 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; anh Dương Văn T đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP.Hạ Long,
  • T. Quảng Ninh;
  • - UBND phường Cao Xanh,
  • TP. Hạ Long, T. Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP.Hạ Long,
  • T. Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu: hồ sơ việc dân sự.

THẨM PHÁN

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 183/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 183/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Anh Dương Văn T và chị Vũ Thị H có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 3 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. [2] Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống hàng ngày không có tiếng nói chung, không quan tâm, tin tưởng nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã. Năm 2016, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng và chị H đã chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hai bên nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cùng thống nhất thuận tình ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận. [3] Về con chung: vợ chồng có 02 (hai) con chung là Dương Vũ H1, sinh ngày 17/5/2004 và Dương Vũ Nhật H2, sinh ngày 09/7/2009. Nay ly hôn, anh chị thống nhất: anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Dương Vũ Nhật H2 kể từ khi có quyết định ly hôn của Tòa án cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh T. Con chung Dương Vũ H1 đã thành niên (đủ 18 tuổi) và không bị nhược điểm về thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Tòa án công nhận. [4] Về tài sản chung và công nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. [5] Về lệ phí: anh T và chị H thống nhất anh T là người nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. [6] Sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nội dung thỏa thuận đó là có căn cứ và hợp pháp. [7] Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự nêu trên được ghi trong Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 09 tháng 8 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger