TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S – TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 182/2023/QĐST-HNGĐ | Sơn Trà, ngày 23 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S – TP. ĐÀ NẴNG
Căn cứ: Khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, Điều 212, 213, 397 Bộ
luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thườn vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc Hôn nhân gia đình thụ lý số:
162/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023 về việc yêu cầu: “Công
nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1998; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay:
Tổ 22, Số 79 đường N, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng.
+ Bà Bùi Thị Kim A, sinh năm: 2000; Nơi ĐKHKTT: Tổ 27 phường M,
quận S, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: K25/02 đường T, phường M, quận
S, thành phố Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục: Đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A
nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại Khoản 2 Điều
29, điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A kết hôn với
nhau vào năm 2021, hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký
kết hôn tại UBND phường T, quận S, TP. Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân hợp
pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại phiên hòa giải ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A xác định: Sau
khi kết hôn, vợ chồng ông bà sống tại nhà cha mẹ ruột của bà A ở địa chỉ:
K25/02 đường T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình
chung sống, giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất
đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung dẫn đến thường
xuyên cãi vả, to tiếng với nhau. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải nhiều lần
nhưng không có kết quả. Vợ chồng ông bà sống ly thân từ tháng 10/2022 cho
đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Xét thấy tình cảm
của cả hai đã không còn, không thể chung sống với nhau được nữa. Vì vậy ông,
bà đề nghị Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn cho ông, bà.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A thì
thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung
thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa ông C và
bà A lại không làm được điều này. Tại phiên hòa giải thì ông C và bà A đều xác
định không còn tình cảm với nhau. Xét thấy, hiện mâu thuẫn của ông C và bà A
đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông C
và bà A là phù hợp quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Tại phiên hòa giải, ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị
Kim A xác định có 01 con chung là: Nguyễn Minh K, sinh ngày: 12/6/2021.
Thuận tình ly hôn, ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A thỏa thuận thống
nhất giao con chung Nguyễn Minh K cho bà Bùi Thị Kim A trực tiếp nuôi
dưỡng cho đến khi con chung Nguyễn Minh K đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn C
cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Minh K mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến
khi con chung Nguyễn Minh K đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng bắt đầu từ tháng 9/2023, vào ngày 10 hàng tháng. Xét yêu cầu về việc
nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung của ông Nguyễn Văn C và bà
Bùi Thị Kim A là thỏa thuận tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82,
83 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và bà
Bùi Thị Kim A.
[5] Về tài sản chung: Tại phiên hòa giải, ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị
Kim A xác định vợ chồng không có tài sản chung nên Tòa án không xem xét
giải quyết.
[6] Về nợ chung: Tại phiên hòa giải, ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim
A xác định vợ chồng không có nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[7] Về lệ phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị
Kim A thỏa thuận mỗi người chịu một nửa là 150.000 đồng. Được trừ vào số
tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003959 ngày
02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng.
Xét thấy việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi
trong biên bản hòa giải đoàn tụ không thành ngày 15 tháng 8 năm 2023 là hoàn
toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không
thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó theo quy định
tại Điều 212, 213, 397 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A. (Do công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A nên Giấy chứng nhận kết hôn số: 20/2021 do Ủy ban nhân dân phường T, quận S, TP. Đà Nẵng cấp ngày 20/01/2021 không còn giá trị pháp lý).
- Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A xác định có 01 con chung là: Nguyễn Minh K, sinh ngày: 12/6/2021. Thuận tình ly hôn, ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A thỏa thuận thống nhất giao con chung Nguyễn Minh K cho bà Bùi Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung Nguyễn Minh K đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Minh K mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung Nguyễn Minh K đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 9/2023, vào ngày 10 hàng tháng.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người được thi hành án có đơn yêu cầu cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A xác định không có.
- Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A xác định không có.
Về lệ phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Kim A thỏa thuận mỗi người chịu một nửa là 150.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003959 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Đặng Văn Mạnh |
Quyết định số 182/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S – TP ĐÀ NẴNG về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 182/2023/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S – TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn giữa Nguyễn Văn C và Bùi Thị Kim A
