|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31/5/2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đô.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Bùi Tấn Ba.
- 2. Bà Phạm Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nhật Lam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh B, sinh năm 1977.
Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Thanh V, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: 280 P, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 12/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Huỳnh B (sau đây viết tắt là ông B) trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị Thanh V (sau đây viết tắt là bà V) có tổ chức đám cưới và chung sống như vợ chồng từ năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, giữa ông và bà V phát sinh mâu thuẫn do bà V thiếu tôn trọng ông, thường xuyên có lời nói, hành động xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của ông và đập phá các tài sản chung trong gia đình; ông và bà V không còn chung sống, không quan tâm chăm sóc cho nhau, vì tình cảm giữa ông bà không còn và không có khả năng đoàn tụ chung sống nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn bà V.
Về con chung: Ông và bà V có 01 (một) người con chung là anh Huỳnh Đẳng S, sinh ngày 05/8/2005 (sau đây viết tắt là anh S); hiện nay anh S đã thành niên, có khả năng tự chăm sóc bản thân và có khả năng lao động nên ông không có yêu cầu gì về con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung.
Về nợ chung: Không có nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 05/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Phạm Thị Thanh V trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông B có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, do sức khỏe của bà không ổn định, ông B nhiều lần bạo lực với bà, thường xuyên vắng nhà nên giữa bà và ông B có mâu thuẫn với nhau, tuy nhiên ông B yêu cầu ly hôn thì bà không đồng ý.
Về con chung: Bà và ông B có 01 (một) người con chung là anh S; hiện nay anh S đã thành niên nên bà không có yêu cầu gì về con chung.
Về tài sản chung: Không có, yêu cầu Tòa án chia tài sản chung.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng về xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục phiên tòa; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng của ông B và bà V; ông B và bà V có 01 (một) con chung là anh S nhưng anh S đã thành niên, ông B, bà V không có yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản nên không xem xét, giải quyết; ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo trình bày của các đương sự và kết quả xác minh của Tòa án, có đủ cơ sở để xác định ông B và bà V có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004, đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng ông B và bà V không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông B và bà V.
[2.2] Về con chung: Theo trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ có cơ sở xác định giữa ông B và bà V có 01 (một) con chung là anh S, hiện đã thành niên, có khả năng tự chăm sóc bản thân và có khả năng lao động; ông B, bà V không có yêu cầu gì về con chung, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề con chung trong vụ án này.
[2.3] Ông B và bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản nên căn cứ quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản trong vụ án này; trường hợp các đương sự có tranh chấp về chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản thì có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Ông B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo các Điều 147, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà ông B đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; các Điều 21, 28, 35, 39, 144, 147, 150, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Huỳnh B và bà Phạm Thị Thanh V.
- Ông Huỳnh B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà ông Huỳnh B đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002080 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đô |
Quyết định số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn
- Số quyết định: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng
