|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 5 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Môn;
- 2. Bà Nguyễn Thị Biên.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08/3/2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Đào Hữu C, sinh năm 1984 (vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)
- Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- - Bị đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1979 (vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)
- Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 23 tháng 02 năm 2024, bản tự khai nguyên đơn là anh Đào Hữu C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H kết hôn ngày 25/02/2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về mọi mặt, đặc biệt là tư tưởng và cách sống nên vợ chồng dần lạnh nhạt tình cảm. Đến khoảng năm 2015 vợ chồng anh tuy vẫn còn chung sống một nhà nhưng không còn tình cảm, quan hệ vợ chồng. Gia đình hai bên cũng đã hoà giải, hàn gắn tình cảm cho anh chị nhưng vì các bên không còn tình cảm nên không thể hoà giải được. Do đã hết tình cảm với vợ nên anh đã có mối quan hệ với người phụ nữ khác và thuê nhà sinh sống bên ngoài vài năm nay. Bản thân anh đang làm nghề lái xe, nay đây mai đó, cứ đi vài ngày mới về địa phương một lần, về được 1-2 ngày lại đi. Tuy nhiên khi về thì anh về nhà trọ ở, chỉ về qua nhà thăm nom và chăm sóc con trai lúc nhát vào ban ngày. Anh với chị H đã không còn tình cảm gì với nhau, không liên quan gì đến nhau. Cuối năm 2023 anh đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, Toà án đã thụ lý vụ án, sau đó do anh bận việc không đến Toà án làm việc được theo giấy triệu tập nên Toà án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Ngay sau khi Toà án đình chỉ anh đã nộp lại đơn ly hôn. Đến nay anh xác định mâu thuẫn giữa anh và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hoà giải đoàn tụ, anh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đinh Thị H.
- Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Đào Hữu C1, sinh ngày 30/11/2010. Cháu C1 đang ở với chị H, do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tại đơn khởi kiện, anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C1 và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh được biết cháu C1 có nguyện vọng được ở với chị H, chị H cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C1, đồng thời yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000đ/tháng. Do vậy anh nhất trí và đề nghị Toà án giao cháu C1 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh đang làm nghề lái xe, thu nhập khoảng 13 đến 15 triệu đồng một tháng. Anh đồng ý sẽ cấp dưỡng cùng chị H nuôi dưỡng cháu C1 số tiền 2.500.000đ/tháng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng một tháng)
- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 12 tháng 4 năm 2024, bị đơn là chị Đinh Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C kết hôn ngày 25/02/2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình chồng khoảng 01 năm thì ra ở riêng. Quá trình chung sống bình thường, đôi khi xảy ra mâu thuẫn xích mích nhỏ, không đáng có. Tuy nhiên anh C nhiều năm nay ngoại tình với nhiều người phụ nữ khác nhau và chính thức ra ngoài thuê trọ sinh sống với người phụ nữ khác khoảng hơn 02 năm nay. Anh C chỉ thi thoảng về nhà vào ban ngày, còn buổi tối thì ra chỗ trọ ở. Anh C ngoại tình công khai và thuê nhà sinh sống với họ ngay gần nhà anh chị, địa phương ai cũng biết anh C ngoại tình và chung sống với người phụ nữ khác. Vợ chồng chị cũng đã chính thức sống ly thân nhau hơn 02 năm nay, không còn tình cảm gì với nhau. Bản thân chị chỉ vì thương con, muốn cho con có được đầy đủ tình cảm của cả bố và mẹ nên chị chịu đựng nhẫn nhịn. Khi anh C đi ngoại tình, chị và mẹ chồng chị đều khuyên bảo nhiều năm nay nhưng không được. Những năm gần đây anh chị mâu thuẫn nhiều hơn, vợ chồng hay xảy ra cãi nhau, có lúc còn đánh nhau. Tất cả mâu thuẫn của vợ chồng chị đều xuất phát từ việc anh C ngoại tình. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh C yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, chị nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh C. Đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị được ly hôn để giải thoát cho cả hai.
- Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là Đào Hữu C1, sinh ngày 30/11/2010. Cháu C1 đang ở với chị, do chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Trường hợp vợ chồng ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C1. Chị yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000đ/tháng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng một tháng) kể từ khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh C làm nghề lái xe nay đây mai đó, ít khi ở nhà, không có điều kiện để chăm sóc tốt cho con. Chị đang làm tại Công ty M, sáng đi tối về, có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi con, thu nhập của chị khoảng 08 đến 10 triệu đồng một tháng.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về công sức đóng góp: Chị và anh C có thời gian chung sống cùng mẹ chồng nhưng không có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của mẹ chồng chị nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết
* Tòa án tiến hành làm việc với bà Lý Thị N (mẹ đẻ anh Đào Hữu C), bà N cung cấp như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Hữu C và chị Đinh Thị H kết hôn ngày 25/02/2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh C chung sống cùng gia đình bà được khoảng 01 năm thì ra ở riêng gần nhà bà. Quá trình chung sống bình thường, đôi khi có xảy ra mâu thuẫn xích mích nhỏ, không đáng có. Tuy nhiên anh C nhiều năm nay có quan hệ ngoài luồng với nhiều phụ nữ khác. Anh C thuê nhà trọ sinh sống ở bên ngoài để cặp bồ và ít khi có trách nhiệm với gia đình. Gia đình bà đã khuyên bảo nhiều nhưng anh C không thay đổi. Nay anh C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, bà đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng anh C đoàn tụ. Trường hợp Tòa án hòa giải mà anh C vẫn cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật
- Về con chung: Anh C và chị H có 01 con chung là Đào Hữu C1, sinh ngày 30/11/2010. Cháu C1 đang ở với chị H, do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Trường hợp vợ chồng anh C và chị H ly hôn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được nuôi cháu C1. Vì anh C làm nghề lái xe nay đây mai đó, ít khi ở nhà và thu nhập bập bõm không ổn định, không có điều kiện để chăm sóc tốt cho con. Chị H đang làm tại Công ty M, sáng đi tối về, có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi con
- Về công sức đóng góp: Trong thời gian vợ chồng anh C và chị H chung sống cùng gia đình bà không có công sức đóng góp gì vào tài sản chung của gia đình bà nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tại bản tự khai, cháu Đào Hữu C1 trình bày: Cháu là con bố Đào Hữu C, con mẹ Đinh Thị H. Cháu đang học lớp 8, trường THCS N1, xã S, thành phố B. Cháu đang ở với mẹ cháu, bố cháu hay đi làm xa, ít khi ở nhà. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ cháu vì mẹ cháu là người hàng ngày quan tâm, chăm sóc, lo toan cho cháu. Bố cháu làm nghề lái xe đường dài hay đi xa, ít khi có ở nhà. Cháu khai tự nguyện theo ý kiến của cháu, mong Toà án chấp nhận cho cháu được ở với mẹ cháu.
* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải nhưng nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự, không ai có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa,
- - Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đào Hữu C được ly hôn chị Đinh Thị H
- Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đào Hữu C1, sinh ngày 30/11/2010. Anh Đào Hữu C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh Đào Hữu C thực hiện quyền, nghĩa vụ này. Anh Đào Hữu C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đào Hữu C1 số tiền 2.500.000đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2024 đến khi cháu C1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Anh Đào Hữu C phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí anh C đã nộp. Anh C tiếp tục phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
- Kiến nghị, khắc phục: Không có
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Hữu C được ly hôn chị Đinh Thị H.
- Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đào Hữu C1, sinh ngày 30/11/2010 đến khi cháu C1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Đào Hữu C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung (cháu Đào Hữu C1), không ai được cản trở anh C thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Đào Hữu C cấp dưỡng nuôi cháu Đào Hữu C1 số tiền 2.500.000đồng/tháng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng một tháng). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6 năm 2024 đến khi cháu Đào Hữu C1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Anh Đào Hữu C phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001631 ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Anh C còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án. Nếu bên phải thi hành không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKS TP.Bắc Giang;
- - Các đương sự;
- - UBND xã Song Khê, TP.Bắc Giang;
- (Giấy CNKH số 08.2011, quyển số 01)
- - Chi cục THADS TP.Bắc Giang;
- - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Quyết định số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số quyết định: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
