TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Quyết định giám đốc thẩm
Số: 18/2024/DS-GĐT
Ngày 08/01/2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Thiện;
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: ông Phan Thanh Tùng;
ông Võ Văn Khoa;
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Lí - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- 1.1. Ông Từ Hữu T, sinh năm 1973;
- 1.2. Ông Từ Hữu T1, sinh năm 1975;
- 1.3. Ông Từ Hữu T2, sinh năm 1977;
- 1.4. Bà Từ Thị Ngọc T3, sinh năm 1979;
- 1.5. Bà Từ Thị Thu T4, sinh năm 1980;
- 1.7. Bà Từ Thị Thu T5, sinh năm 1983;
- 1.8. Bà Từ Thị Thanh T6, sinh năm 1985;
Cùng địa chỉ: C đường P, Phường A, Quận A, Tp ..
- Bị đơn: ông Lâm Văn V, sinh năm 1963; địa chỉ: 1 đường N, Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1972;
- 3.2. Anh Lâm Quốc H, sinh năm 1991;
- 3.3. Cháu Lâm Quốc V1, sinh năm 2007;
- 3.4. Ông Lâm Văn N, sinh năm 1959;
Cùng địa chỉ: số A đường N, Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
- 3.5. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An; địa chỉ: B, Quốc lộ A, Khu phố C, thị trấn B, huyện B, Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các nguyên đơn ông Từ Hữu T, ông Từ Hữu T1, ông Từ Hữu T2, bà Từ Thị Ngọc T3, bà Từ Thị Thu T4, bà Từ Thị Thu T5, bà Từ Thị Thanh T6 có ông Từ Quốc B là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Năm 1944, cụ Lâm Thị D (chết năm 1977), là cố nội của các nguyên đơn, mua theo hợp đồng mua bán tại Sổ ký nạp số 1363, quyển số 14 ngày 19/9/1944 và bằng khoán điền thổ số 399 được đưa vào sổ điền thổ làng P, tỉnh Chợ Lớn với diện tích 1,59 hecta, loại đất vườn tạp và lá dừa nước tại Lô A, ấp T (nay là Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An). Năm 1977, cố Dứa chết để lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho cụ Từ S, là ông nội của các nguyên đơn. Ngày 30/6/1994, cụ Từ S lập tờ di chúc để lại toàn bộ diện tích 1,61 hecta đất cho con ruột Từ Nghĩa (cha của các nguyên đơn). Di chúc có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An. Sau khi cụ Từ S chết (ngày 18/01/1995), ông Từ N1 tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến khi ông N1 chết (ngày 28/4/2012). Hiện nay, ông Từ Hữu T và ông Từ Hữu T2 đang trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này; trên có căn nhà từ đường D.
Quá trình sử dụng, năm 1963, cụ Từ S cho gia đình cụ Tôn Thị D1 ở nhờ trong một cái chòi nhỏ (không rõ diện tích, không lập giấy tờ, không xác định thời gian trả) nằm trong diện tích 1,61 hecta, tại vị trí hiện nay ông V đang sử dụng. Năm 2002, cụ D1 tự ý kê khai và hợp thức hóa phần diện tích cái chòi 774,m². Năm 2003, cụ D1 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, cụ D1 làm thủ tục chuyển nhượng phần đất này cho con ruột là ông Lâm Văn V. Hiện nay, ông V đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 021328 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp ngày 01/7/2004.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 352-2016 do Công ty TNHH Đ lập và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 28/12/2016 thì diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ 30 tọa lạc tại Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 021328 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp cho ông Lâm Văn V ngày 01/7/2004.
Các nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan, đồng ý hỗ trợ di dời phần diện tích 90m² (ước lượng diện tích căn chòi lá cho ở nhờ) với giá trị 750.000 đồng/m².
Bị đơn, ông Lâm Văn V trình bày:
Ông Lâm Văn V là con ruột của cụ Tôn Thị D1 (sinh năm 1927, chết tháng 4/2006) và cụ Lâm Văn N2 (sinh năm 1927, chết ngày 09/12/1992). Ông V biết rõ nguồn gốc phần đất tranh chấp là của gia đình cụ Từ S. Năm 1963, cụ S cho cụ D1 ở nhờ trên phần đất (nay có diện tích 774,2m², thuộc thửa 23, tờ bản đồ 30), loại đất ODT. Cùng năm này, cụ D1 mua luôn phần đất của cụ Từ S, khi mua cũng không có giấy tờ, không nói rõ diện tích. Năm 1993, cụ D1 kê khai phần đất đang sử dụng. Ngày 02/3/1998, cụ D1 có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chủ trương của Nhà nước. Tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 12/3/1996 có 11 hộ tiếp giáp liền kề của thửa đất cụ D1 đăng ký, trong đó có chủ K (là ông Từ N1) ký tên, ông V không rõ ông N1 có ký tên hay không, vì lúc đó cụ D1 là người đi làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất. Cụ D1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W545166 vào sổ số 02197/QSDĐ - 0201LA ngày 07/01/2003. Ngày 19/3/2004, cụ D1 làm thủ tục tặng cho ông Lâm Văn V thửa đất này được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 01/7/2004.
Gia đình ông Lâm Văn V và các con là: anh Lâm Quốc H và anh Lâm Quốc V1, cùng ông Lâm Văn N (anh trai của ông V) sinh sống ổn định trên diện tích đất tranh chấp, đã xây dựng nhà kiên cố trên phần đất này và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Ông V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hiện nay, ông N bị bệnh tâm thần, theo Bản kết luận giám định pháp y tâm thần của Sở Y tế tỉnh L ngày 14/10/2013 thì ông N bị bệnh tâm thần từ năm 18 tuổi.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Nguyễn Thị T7 (vợ của ông Lâm Văn V): thống nhất với ý kiến của ông V, không yêu cầu hay bổ sung gì.
Anh Lâm Quốc H (con ruột của ông V, bà T7): thống nhất với ý kiến của cha mẹ anh, không bổ sung ý kiến nào khác.
Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An: có Công văn số 834/UBND-VP ngày 23/6/2016 đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu khởi kiện của các đương sự, Ủy ban nhân dân huyện B sẽ xem xét xử lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Các đương sự đều thống nhất và yêu cầu Tòa án sử dụng kết quả đo đạc của Mảnh trích đo địa chính số 352-2016 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 14/01/2012 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 28/12/2016, Bản vẽ phân khu theo Mảnh trích đo bản gốc ngày 31/10/2017 và Biên bản định giá ngày 16/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức làm cơ sở xét xử vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2019/DS-ST ngày 28/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
- Buộc ông Lâm Văn V, bà Nguyễn Thị T7 phải tháo dỡ và di dời toàn bộ tài sản và trả lại diện tích đo đạc thực tế là 185,1m² tại vị trí khu (A) thuộc 01 phần thửa số 23, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, đất tọa lạc tại thị trấn B, huyện B do ông Lâm Văn V đang đứng tên trên Giấy CNQSDĐ cấp ngày 01/7/2004 để trả đất trống cho các nguyên đơn Từ Hữu Trung, Từ Hữu T1, Từ Hữu Trọng, Từ Thị Ngọc T3, Từ Thị Thu T4, Từ Thị Thu T5, Từ Thị Thanh T6.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất theo quy định pháp luật đất đai.
Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất trên được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 352-2016 do Công ty TNHH Đ thực hiện ngày 14/01/2012 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất duyệt ngày 28/12/2016 và Bản vẽ phân khu theo Mảnh trích đo bản gốc ngày 31/10/2017 được đính kèm theo bản án).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 216/2020/DS-PT ngày 24/06/2020, Tòa án tỉnh Long An quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Từ Hữu T, Từ Hữu T1, Từ H, Từ Thị Ngọc T3, Từ Thị Thu T4, Từ Thị Thu T5, Từ Thị Thanh T6. Chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn V.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2019/DS-ST ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của các nguyên đơn Từ Hữu Trung, Từ Hữu T1, Từ H, Từ Thị Ngọc T3, Lư Thị Thu T8, Từ Thị Thu T5, Từ Thị Thanh T6 đối với ông Lâm Văn V về việc yêu cầu ông Lâm Văn V, bà Nguyễn Thu T9 phải trả lại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, diện tích đo đạc thực tế là 751m², tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
- Vị trí đất được thể hiện tại khu A theo Mảnh trích đó địa chính số 352-2016 đo Công ty TNHH Đ1 vẽ năm 2016 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 28/12/2016.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và hiệu lực của bản án.
Ngày 05/07/2021, ông Từ Hữu T2 có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 198/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 24/10/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nguồn gốc, các đương sự đều thống nhất phần đất tranh chấp là của cụ Lâm Thị D (cố nội của ông V) và cụ Từ S (ông nội của ông V) cho gia đình cụ Tôn Thị D1 ở nhờ từ năm 1963. Ông V cho rằng sau khi được cụ S cho ở nhờ thì cụ D1 đã mua lại phần diện tích đất 751,1m² của cụ S nhưng ông V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc việc mua bán cũng như chứng cứ về việc thanh toán tiền nhận chuyển nhượng. Trong khi đó, các nguyên đơn cho rằng cụ S chỉ cho cụ D1 ở nhờ nhưng cũng không xác định được diện tích cho ở nhờ là bao nhiêu cũng như không xác định thời gian cho ở nhờ là bao lâu. Theo lời khai của những người làm chứng cũng xác định hộ gia đình cụ D1 đã quản lý, sử dụng phần đất trên từ lâu nhưng cũng không biết rõ diện tích sử dụng là bao nhiêu.
[2] Về hiện trạng, phần đất tranh chấp đo đạc thực tế có diện tích 751,1m² theo Mảnh trích đo địa chính số 352-2016 do Công ty TNHH Đ lập và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đại huyện B duyệt ngày 28/12/2016, thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 021328 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp cho ông Lâm Văn V. Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2015 do Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tiến hành thể hiện: tại vị trí khu A (có tổng diện tích đất là 566m²) có căn nhà (1) diện tích 65,4m² được xây dựng từ năm 1973 và căn nhà (2) diện tích 84,4m² đều do gia đình ông V đang quản lý, sử dụng; tại vị trí khu A1 không có công trình kiến trúc kiên cố, có diện tích 185,1m² do gia đình ông Từ N1 quản lý, sử dụng. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Từ Hữu T2 xác định hai bên đã xác định mốc giới bởi các cột xi măng tiếp giáp với phần đất phía trước nhà của gia đình bị đơn.
[3] Về quá trình kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, theo Công văn số 1131/UBND-VP ngày 10/8/2016 của Ủy ban nhân dân huyện B cung cấp thể hiện: tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 12/3/1996, chủ sử dụng đất tiếp giáp “chủ K” ghi “Từ N1” nhưng đối chiếu với các chữ ký của ông N1 tại thời điểm ký giáp ranh thì không giống các chữ ký khác của ông N1 có trong hồ sơ. Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập ngày 02/3/1998 của cụ D1 là không hợp lý, không phù hợp với quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì biên bản xác định ranh giới, mốc giới lại có trước đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, cụ D1 không có chứng cứ chứng minh về việc cụ D1 đã mua thửa đất này của cụ Từ S nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ D1 vào ngày 07/01/2003 lại thể hiện “mua của ông Từ S vào năm 1963 ấp chiến lược” là chưa phù hợp về căn cứ xác lập nguồn gốc đất theo quy định của pháp luật đất đai.
[4] Ngoài ra, cụ D1 sử dụng phần đất này ổn định từ trước năm 1963 đến năm 1998 mới làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất nhưng trong hồ sơ kê khai, đăng ký thể hiện, từ năm 1998, ông Từ N1 nhiều lần làm đơn khiếu nại về việc đăng ký trái quy định của các hộ dân gửi đến Ủy ban nhân dân thị trấn B, tỉnh Long An yêu cầu giải quyết. Ngày 10/02/1999, Ủy ban nhân dân thị trấn B đã trả lại đơn khiếu nại cho ông Từ N1 với lý do: “Đất do cha là ông Từ S (đã chết) - giải quyết cho bà Tôn Thị D1 sử dụng lâu đời (Trước năm 1975)”. Như vậy, trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa các bên đã xảy ra tranh chấp, khi chưa giải quyết dứt điểm khiếu nại của công dân mà Ủy ban nhân dân huyện B vẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ D1 là không đúng quy định.
[5] Ngày 30/6/1994, cụ Từ S lập Tờ di chúc có nội dung “để lại cho con trai là Từ N1 được trọn hưởng 1,61 ha đất vườn tạp và lá dừa nước tại Lô A, ấp T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An” (có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn B ngày 02/7/1994). Thời điểm này gia đình cụ D1 vẫn ở trên đất tranh chấp. Khi cụ Từ S còn sống cũng không khiếu nại gì về việc cụ D1 ở trên đất và trước năm 1998, ông N1 cũng không khiếu nại. Cụ D1 trực tiếp sử dụng phần đất tranh chấp đến khi kê khai liên tục, ổn định, không bị tranh chấp là 35 năm, phù hợp với quy định tại Điều 182, Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, do cả nguyên đơn, bị đơn đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc có hay không có việc mua bán hay ở nhờ, diện tích cho ở nhờ nhận chuyển nhượng là bao nhiêu nên căn cứ quy định của pháp luật dân sự về tình trạng chiếm hữu và suy đoán về tình trạng chiếm hữu, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần diện tích bị đơn hiện đang quản lý, sử dụng (tại vị trí khu A) là thuộc quyền sử dụng của bị đơn, còn phần diện tích tại khu A1 có vị trí liền ranh giới với nguyên đơn, nguyên đơn đang sử dụng thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là phù hợp hiện trạng sử dụng đất của các bên và các tài liệu, chứng cứ về quá trình tạo lập, quản lý, sử dụng và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất của các bên liên quan.
[6] Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Từ Hữu T2 theo hướng buộc ông Lâm Văn V và bà Nguyễn Thị T7 phải tháo dỡ và di dời toàn bộ tài sản để trả lại phần đất đo đạc thực tế có diện tích 185,1m² tại vị trí khu A1 thuộc một phần thửa đất số 23, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An do ông V đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trả đất trống cho các nguyên đơn là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Tòa án cấp phúc thẩm xác định cụ D1 đã sử dụng ổn định phần đất tranh chấp từ năm 1963 đến năm 1996, cụ D1 chiếm hữu ngay tình công khai liên tục toàn bộ diện tích đất tranh chấp trên 30 năm nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là không phù hợp với thực tế quá trình tạo lập, quản lý sử dụng và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất của các bên, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, cần hủy bản án dân sự phúc thẩm, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm thì mới đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Chấp nhận Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm số 198/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 24/10/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 216/2020/DS-PT ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2019/DS-ST ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn là ông Từ Hữu T, ông Từ Hữu T1, ông Từ Hữu T2, bà Từ Thị Ngọc T3, bà Từ Thị Ngọc T10, bà Từ Thị Thu T5, bà Từ Thị Thanh T6 với bị đơn là ông Lâm Văn V.
- Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Nơi nhận:
| TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thiện |
Quyết định số 18/2024/DS-GĐT ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 18/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm số 198/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 24/10/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 216/2020/DS-PT ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2019/DS-ST ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An
