TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1784/2024/DS-ST Ngày: 27/8/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
2/ Ông Nguyễn Văn Tài
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Khánh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 0917/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 472/2024/QĐXXST-DS ngày: 15/7//2024 và Quyết Định hoãn phiên tòa số: 388/2024/QÐST - DS ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S
Địa chỉ: Lầu H, số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (văn bản ủy quyền số 1819/2024/UQ-TGĐ); Địa chỉ: Lầu H, Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Ông Huỳnh Việt D
Địa chỉ: A B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (sau đây gọi là Ngân hàng) trình bày:
Ngày 07/6/2011, ông Huỳnh Việt D có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông D, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 50.017.265 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông D đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 68.615.298 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông D vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 26/12/2016 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 31/10/2019, Ông D còn nợ các khoản sau:
- - Nợ gốc: 12.342.676 đồng
- - Lãi quá hạn: 13.798.720 đồng
- - Tổng cộng: 26.141.396 đồng
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông D có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông D vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn là ông Huỳnh Việt D phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 49.519.612 đồng. Đồng thời, bị đơn còn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 28/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn là ông Huỳnh Việt D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng cụ thể xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thực hiện đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181, Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Huỳnh Việt D cư trú tại Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có đơn xin vắng mặt và bị đơn là ông Huỳnh Việt D đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[4]. Về các yêu cầu của đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tổng dư nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 49.519.612 đồng, trong đó tiền gốc là 12.342.676 đồng và lãi quá hạn là 37.176.936 đồng và ông D còn phải chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ và Bản điều khoản điều kiện sử dụng thẻ kể từ ngày 28/8/2024 cho đến ngày ông D trả dứt nợ, Hội đồng xét xử thấy:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ ngày 07/06/2011, có cơ sở xác định nguyên đơn có cấp cho bị đơn thẻ tín dụng với hạn mức thẻ 25.000.000 đồng, lãi suất và phí theo Bản điều khoản điều kiện sử dụng thẻ tín dụng. Giấy đề nghị cấp thẻ ngày 07/06/2011 đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại Điều 117, Điều 401 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết.
Trong quá trình sử dụng thẻ, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ bảng kê tính lãi, tính đến ngày 27/8/2024 bị đơn còn nợ tiền gốc là 12.342.676 đồng và lãi quá hạn là 37.176.936 đồng là vi phạm quy định của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng, do đó, ngày 26/12/2016, nguyên đơn đã ra thông báo chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn là phù hợp với quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ Điều 466 bộ luật dân sự 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ tính đến ngày 27/8/2024 tổng số tiền: 49.519.612 đồng (trong đó tiền gốc là 12.342.676 đồng và lãi quá hạn là 37.176.936 đồng) trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và bị đơn còn phải chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ và Bản điều khoản điều kiện sử dụng thẻ kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ.
[5] Đối với bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa, không có lý do cũng không cung cấp các chứng cứ nào khác đối với yêu cầu của nguyên đơn, thể hiện bị đơn thiếu tinh thần thiện chí trong việc thanh toán nợ và bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự. Cụ thể những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về nội dung căn cứ quy định tại Điều 463 và 466 Bộ Luật dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.475.981 đồng.
Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 463 và 466 Bộ Luật dân sự 2015, Căn cứ 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005.
Căn cứ vào Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án năm 2008; Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.
Buộc ông Huỳnh Việt D phải trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 27/8/2024 là 49.519.612 đồng (trong đó tiền gốc: 12.342.676 đồng và lãi quá hạn là 37.176.936 đồng) trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Huỳnh Việt D còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/6/2011 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng TMCP S) các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Việt D phải chịu là 2.475.981 đồng.
Hoàn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 653.535 đồng cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S theo biên lai thu số AA/2019/0078561 ngày 11/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S, ông Huỳnh Việt D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Hiền Long |
Quyết định số 1784/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 1784/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S, bị đơn: ông Huỳnh Việt D
