TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 1740/2024/QÐST-HNGĐ | Biên Hòa, ngày 28 tháng 11 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Căn cứ khoản 2 Điều 396; khoản 4 Điều 397; khoản 2 Điều 149; Điều 212 và Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 2490/2024/TLST- VHNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1. Bà Hồ Thị M, sinh năm 1994;
Địa chỉ: 5, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Ông Trần Nam P, sinh năm 1991.
Địa chỉ: 5, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị M và ông Trần Nam P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 224/2016, cấp ngày 15/7/2016 nên căn cứ Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bà Hồ Thị M và ông Trần Nam P khai, trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ của hai vợ chồng trái ngược nhau, thường xuyên cãi vã nên gia đình luôn căng thẳng. Cả vợ chồng mặc dù đã cố gắng tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đoàn tụ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên hai vợ chồng ông bà thống nhất thuận tình ly hôn.
[2] Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Phúc L, sinh ngày 10/02/2018 và Trần Khánh N, sinh ngày 17/5/2020. Ly hôn, bà M và ông P thống nhất giao cháu Trần Phúc L cho ông P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động; Giao cháu Trần Khánh N cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về lệ phí: Bà Hồ Thị M và ông Trần Nam P phải chịu lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[6] Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành ngày 20 tháng 11 năm 2024 là thực sự tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Sự thỏa thuận của bà M, ông P đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con. Do đó, đủ cơ sở để Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hồ Thị M và ông Trần Nam P.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Hồ Thị M, sinh năm 1994 và ông Trần Nam P, sinh năm 1991.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Phúc L, sinh ngày 10/02/2018 và Trần Khánh N, sinh ngày 17/5/2020. Ly hôn, bà M và ông P thống nhất giao cháu Trần Phúc L cho ông P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động; Giao cháu Trần Khánh N cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, bà M, ông P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
2. Về lệ phí: Bà Hồ Thị M và ông Trần Nam P mỗi người phải chịu 150.000 đồng lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004433 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Lê Thị Tám |
Quyết định số 1740/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 1740/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau: - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Hồ Thị Mận, sinh năm 1994 và ông Trần Nam Phong, sinh năm 1991. - Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Phúc Lâm, sinh ngày 10/02/2018 và Trần Khánh Ngọc, sinh ngày 17/5/2020. Ly hôn, bà Mận và ông Phong thống nhất giao cháu Trần Phúc Lâm cho ông Phong trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động; Giao cháu Trần Khánh Ngọc cho bà Mận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, bà Mận, ông Phong có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết 2. Về lệ phí: Bà Hồ Thị Mận và ông Trần Nam Phong mỗi người phải chịu 150.000 đồng lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004433 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
