Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2023/HS-ST

Ngày: 17/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Hoàng Thị Khánh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 17/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2023/TLST - HS ngày 23/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232 /2023/QĐXXST – HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Thái Hải S; Tên gọi khác: Không;Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/12/1990 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: K, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Thái Văn N, sinh năm 1967; Họ tên mẹ: Phạm Thị K, sinh năm 1969; A, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; Con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023.
  2. Tiền án: - Ngày 26/02/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 59/2019/HSST Chấp hành xong án phạt tù ngày 27/11/2019.

    - Ngày 30/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 42/2020/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2022. Chưa được xóa án tích.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa

  3. Họ và tên: Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/5/1989 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Trần Văn N1, sinh năm 1956; Họ tên mẹ: Thái Thị D - sinh năm 1958; A, chị, em ruột: có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Nhân thân: - Ngày 12/11/2021, bị Công an xã D, huyện D xử phạt vi phạm hành chính hành vi Trộm cắp tài sản. Đã nộp phạt xong ngày 14/12/2021.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 12/7/ 2023, Thái Hải S đang ở nhà thì nảy sinh ý định mua ma tuý về bán kiếm lời nên gọi điện cho người đàn ông tên T1, người ở xã D, huyện D và nói “Mi có hồng không để cho tau một triệu”, ý của S là hỏi mua của người này 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền ma tuý hồng phiến thì T1 đồng ý và hẹn S đi đến khu vực trước cổng chợ S1, thuộc thôn G, xã D, huyện D để lấy ma tuý và đưa tiền. Sau đó, S bắt xe taxi đến trước cổng chợ S1 thì xuống xe và gặp T1, S nói “anh có phải anh T1 không?”, T1 trả lời “ừ, mi điện thoại lấy một triệu tiền hồng à”, S trả lời “ừ”, T1 nói tiếp “tiền mô?” thì S đưa cho T1 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và T1 chỉ S đi lại chỗ bao rác màu đen bên đường gần chỗ S đứng để lấy ma tuý. Khi đến chỗ bao rác, S thấy 01 (Một) gói nilon màu đen, bên trong có nhiều viên nén ma tuý hồng phiến. S cầm gói ma tuý bỏ ở túi quần phía trước bên trái quần đang mặc rồi bắt taxi đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ 13/7/2023, S đang ở nhà thì Trần Văn T, sinh năm 1989, trú tại xóm Q, xã D, huyện D gọi điện hỏi “có đồ không”, S trả lời “có”. T nói S “rứa để cho năm trăm nghìn hồng”, S hiểu ý của T là hỏi mua 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền ma tuý hồng phiến nên đồng ý và hẹn T đến nhà để lấy ma tuý và đưa tiền. Sau đó, S lấy 07 (B) viên ma tuý hồng phiến bỏ vào gói nilon màu đen và cầm ở lòng bàn tay trái, các viên ma tuý còn lại S gói lại vào bao nilon ban đầu rồi bỏ trong túi quần phía phải quần S mặc. Sau đó, S đi bộ từ nhà đến trước cổng khách sạn X thuộc K, thị trấn D, huyện D. T đưa cho S số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và S đưa cho T gói ma tuý ở lòng bàn tay trái rồi T rời đi, còn S đi bộ về nhà.

Đến khoảng 15 giờ 10 phút ngày 13/7/2023, khi T đang đi bộ trên đoạn đường thuộc xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Trạm Cảnh sát giao thông Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi áo bên phải T đang mặc 01 (một) gói nilon màu đen, bên trong chứa 07 (bảy) viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng đồng, đã qua sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong số vật chứng và đưa T về trụ sở Công an huyện D để làm việc.

Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, khi S đang ở nhà thì bị lực lượng công an huyện D thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với S. Lực lượng công an đã thu giữ tại túi quần phía trước bên trái S đang mặc 01 (Một) gói nilon màu đen, bên trong có chứa 26 (hai mươi sáu) viên ma tuý hồng phiến và thu giữ 01 (Một) điện thoại Realme màu xanh, đã qua sử dụng. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và niêm phong vật chứng rồi đưa S về trụ sở Công an huyện D để điều tra làm rõ sự việc.

Hồi 20 giờ 05 phút ngày 13/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 674/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 19/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

  • Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1) thu giữ của Trần Văn T gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau (07 viên) thu giữ của Trần Văn T có tổng khối lượng là 0,7 gam (Không phẩy bảy gam);
  • Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M2) thu giữ của Thái Hải S gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau (26 viên) thu giữ của Thái Hải S có tổng khối lượng là 2,6 gam (Hai phẩy sáu gam).

Tại bản cáo trạng số 153 9/CT-VKS-DC ngày 19/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị can Thái Hải S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 15 đến 18 tháng tù;

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thái Hải S từ 08 đến 08 năm 06 tháng tù.

Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án:

  • Tịch thu tiêu hủy:
  • - 07 (bảy) viên ma túy Methamphetamine thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn T có tổng khối lượng là 0,7 (không phẩy bảy) gam. Hội đồng đã lấy 02 (hai) viên có tổng khối lượng 0,2 gam (Không phẩy hai gam) để gửi giám định. Số vật chứng còn lại được niêm phong lại theo đúng quy định.

    - 26 (Hai mươi sáu) viên ma túy Methamphetamine thu giữ của Thái Hải S có tổng khối lượng là 2,6 (Hai phẩy sáu) gam. Hội đồng đã lấy 05 (năm) viên có tổng khối lượng 0,5 gam (Không phẩy năm gam) để gửi giám định. Số vật chứng còn lại được niêm phong lại theo đúng quy định.

  • Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước:
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng đồng, số Imei 1: 355563304933507; số Imie 2: 355633049635070 máy đã qua sử dụng có số thuê bao 0362.081.927 là điện thoại thu giữ của Trần Văn T.

    - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xanh, đã qua sử dụng, số Imei 1: 869150054667798; số Imei 2: 869150054667780 có số thuê bao 0966.196.264 là điện thoại thu giữ của Thái Hải S.

Vật chứng nêu trên hiện bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D.

Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ ngày 13/7/2023, tại khu vực trước cổng Khách sạn X thuộc K, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Thái Hải S đã có hành vi bán 0,7 gam ma túy Methamphetamine cho Trần Văn T với mục đích kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ 10 phút ngày 13/7/2023, khi T đang đi bộ trên đoạn đường thuộc xóm F, xã D, huyện D thì bị Tổ công tác Trạm Cảnh sát giao thông Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,7 gam ma túy Methamphetamine. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, Công an huyện D thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Thái Hải S, phát hiện và thu giữ trong túi áo của S đang cất giấu 2,6 gam ma túy Methamphetamine của S đang tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời.Như vậy, Thái Hải S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 3,3 gam ma túy Methamphetamine, bị cáo Thái Hải S phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

Trần Văn T mua ma túy để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,7 gam ma túy Metaphetamine theo quy định của Bộ luật Hình Sự.

[3].Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong vụ án này hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Thái Hải S thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, vì vậy cần xét xử nghiêm minh và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Cần tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: không

Đối với người đàn ông tên T1 đã bán ma túy cho S; Do không rõ địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý

[4]. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong bên trong chứa vật chứng sau khi lấy mẫu giám định thu giữ của Thái Hải STrần Văn T

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng đồng, số Imei 1: 355563304933507; số Imie 2: 355633049635070 máy đã qua sử dụng có số thuê bao 0362.081.927 là điện thoại thu giữ của Trần Văn T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xanh, đã qua sử dụng, số Imei 1: 869150054667798; số Imei 2: 869150054667780 có số thuê bao 0966.196.264 là điện thoại thu giữ của Thái Hải S liên quan đến vụ án nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

Số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D theo Phiếu nhập kho số 24NK06 ngày 27 /10/2023).

[6]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. - Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: T (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 13/7/2023).

    - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 13/7/2023).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  4. Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong đúng quy định bên trong chứa vật chứng sau khi lấy mẫu giám định thu giữ của Thái Hải STrần Văn T

    Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng đồng, số Imei 1: 355563304933507; số Imie 2: 355633049635070 máy đã qua sử dụng có số thuê bao 0362.081.927 là điện thoại thu giữ của Trần Văn T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xanh, đã qua sử dụng, số Imei 1: 869150054667798; số Imei 2: 869150054667780 có số thuê bao 0966.196.264 là điện thoại thu giữ của Thái Hải S.

    (Số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D theo Phiếu nhập kho số 24NK06 ngày 27 /10/2023)

  5. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  6. Buộc các bị cáo Thái Hải STrần Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an, THA Hình sự huyện Diễn Châu;
  • - THA Dân sự huyện Diễn Châu;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Danh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 173/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và "tàng trữ trái phép chất ma túy"

  • Số quyết định: 173/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Hải Sơn phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger