TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Quyết định giám đốc thẩm Số: 171/2024/DS-GĐT | |
Ngày: 17/06/2024 V/v: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán gồm có: 08 thành viên tham gia xét xử, do ông Phan Thanh Tùng, Phó Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ tọa phiên toà, theo sự uỷ nhiệm của Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thư ký phiên tòa: ông Trịnh Xuân Luyến, Thẩm tra viên chính.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Sơn, Kiểm sát viên.
Vào ngày 17/06/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, giữa các đương sự:
1/Nguyên đơn:
Ông Trần Văn T, sinh năm 1976;
Địa chỉ: ấp Song Thạnh, xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo,
tỉnh Tiền Giang.
2/Bị đơn:
Ông Trần Văn S, sinh năm 1973;
Địa chỉ (đăng ký thường trú): 01 Trần Quốc Toản, phường 4,
thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ (tạm trú): 212 quốc lộ 50, ấp 3B, xã Đạo Thạnh,
thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
3/Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1/Công ty TNHH Sản xuất - Chế biến Nông sản C;
Địa chỉ: 212 quốc lộ 50, ấp 3B, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho,
tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Đoàn Văn S1, là Giám đốc công ty;
Địa chỉ: 02 ấp B, phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
3.2/Bà Trần Thị T1, sinh năm 1983;
Địa chỉ: ấp Song Thạnh, xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo,
tỉnh Tiền Giang.
4/Người làm chứng:
4.1/Bà Bùi Thị M, sinh năm 1968;
Địa chỉ: ấp Song Thạnh, xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo,
tỉnh Tiền Giang.
4.2/Bà Cao Lê Thùy V, sinh năm 1985;
Địa chỉ: 1/3D Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho,
tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Văn T, như sau:
Ông Trần Văn T (ông T) là chủ doanh nghiệp T4 để xuất khẩu.
Bởi vì ông Trần Văn S (ông S) là thành viên góp vốn của công ty TNHH S2 (gọi là công ty S2), nên ông T đã tin tưởng, cho ông S vay tiền nhiều lần (để bổ sung vào vốn kinh doanh của công ty S2), cụ thể như sau:
- -Lần thứ nhất vào ngày 16/08/2019 (nhằm ngày 16/07/2019 âm lịch): cho vay số tiền 3.000.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 1,5%/tháng để bổ sung vốn kinh doanh. Khi vay tiền, ông S có viết giấy biên nhận, có đóng dấu của công ty S2 và hẹn đến ngày 23/08/2019 sẽ trả lại tiền vốn và tiền lãi;
- -Lần thứ hai vào ngày 02/10/2019 (âm lịch): cho vay số tiền 29.500.000.000 đồng để bổ sung vốn cho công ty S2; lãi suất thỏa thuận (bằng lời nói) là 1,5%/tháng; có giấy biên nhận đóng dấu của công ty S2;
- -Lần thứ ba: khoản nợ bắt nguồn từ việc ông T bán thanh long cho ông S. Vào ngày 08/04/2020 (âm lịch), hai bên tổng kết số tiền nợ, ông S nợ số tiền là 97.172.000.000 đồng và viết giấy biên nhận nợ; thỏa thuận (bằng lời nói) lãi suất là 1,5%/tháng, thời hạn vay là 10 ngày.
Tất cả những khoản tiền nói trên, là 100.790.000.000 đồng.
Ông T khởi kiện, đòi ông S và công ty S2 liên đới trả số tiền vốn gốc là 100.172.000.000 đồng và trả số tiền lãi (tính lãi theo lãi suất là 1,5%/tháng, tính lãi kể từ ngày ông S nhận tiền lần cuối là ngày 08/04/2020 âm lịch (là ngày 30/04/2020 dương lịch) cho đến ngày Tòa án xét xử.
Đối với giấy biên nhận ngày 02/10/2019 (âm lịch), số tiền vay là 29.500.000.000 đồng, ông T rút việc khởi kiện vì không có giấy biên nhận (bản chính).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T rút lại việc đòi công ty S2 liên đới trả nợ.
Ý kiến của bị đơn là ông Trần Văn S, như sau:
- -Đối với 19 phiếu chi tiền do ông Đặng Văn T2 (người đại diện của ông S) cung cấp cho Tòa án vào ngày 13/6/2022, trong đó có 05 phiếu chi mà ông S đã trả tiền cho ông T, thì đã đã đủ những yếu tố kết luận rằng việc cho vay của ông T đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Điều 201 của Bộ luật Hình sự, số tiền thu lợi bất chính là 240.925.000 đồng;
- -Đối với giấy biên nhận nợ ngày 08/04/2020 âm lịch (số tiền là 97.172.000.000 đồng):
Vào dịp lễ 30/04/2020, ông T hẹn ông S đến trụ sở mua-bán thanh long (của ông T) để hai bên làm việc tại cơ sở L1, có mặt bà Bùi Thị M (phòng làm việc tại lầu 2). Tại phòng làm việc, ông T đòi ông S viết giấy biên nhận nợ 97 tỷ đồng. Ông S không đồng ý, thì ông T đã đi ra ngoài, khoá cửa, để lại một mình ông S trong phòng. Vì sợ ảnh hưởng uy tín của công ty S2, nên ông S không dám gọi người khác giúp đỡ. Ba tiếng đồng hồ sau đó, ông T mở cửa vào và yêu cầu ông S viết giấy nợ số tiền là 97.172.000.000 đồng, theo lời đọc của ông T. Như vậy, giấy biên nhận nợ ngày 08/4/2020 âm lịch do ông S ký nhận trong trường hợp bị đe doạ, không do tự nguyện; số tiền ghi trong giấy nợ là khoản tiền khống, cộng dồn từ tất cả các khoản tiền vốn vay và tiền lãi. Vì vậy, ông S yêu cầu Toà án ngừng việc xét xử vụ án, chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an tỉnh T giải quyết theo luật định.
Người làm chứng là bà Cao Lê Thùy V, trình bày ý kiến như sau:
Vào năm 2018 và năm 2019, bà V là nhân viên của công ty S2. Trong thời gian làm việc tại đây, ông S đã nhiều lần yêu cầu bà V mang tiền trả cho ông T; việc làm đó thực hiện theo yêu cầu của ông S và bà V không biết về nội dung giao dịch giữa hai bên. Số lượng 19 phiếu chi mà ông S cung cấp cho Toà án, là do bà V cầm tiền, trả cho ông T.
Người làm chứng là bà Bùi Thị M, trình bày ý kiến như sau:
Bà M là hàng xóm của ông T, đã từng vay tiền của ông T và cho ông S vay tiền.
Vào một buổi chiều ngày 08/4/2020 âm lịch (nhằm ngày 30/04/2020 dương lịch), vì biết ông T hẹn ông S gặp tại kho thanh long (của ông T, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang) để kết toán số tiền vay, nên bà M đến K, cũng nhằm để giải quyết việc vay tiền giữa bà M và ông S.
Tại kho thanh long, bà M gặp ông S và ông T. Sau đó, ông T mời ông S lên lầu 2 để nói chuyện; bà M ở tầng trệt, đợi ông S. Ông T và ông S nói chuyện với nhau trong khoảng hơn một tiếng đồng hồ, không thấy hai bên lớn tiếng hoặc cãi cọ. Sau đó, ông S đi ra và có vẻ mệt mỏi. Bà M biết ông S có vay tiền của ông T, nhưng vay bao nhiêu, lãi suất bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu.......thì bà M không biết.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 01/07/2022, Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử như sau:
- -Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông S về số tiền vay 29.500.000.000 đồng vào ngày 02/10/2019 âm lịch;
- -Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông S; buộc ông S trả cho ông T số tiền vốn là 100.172.000.000 đồng và số tiền lãi là 21.425.277.000 đồng, tổng cộng là 121.597.277.000 đồng; thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn buộc đương sự chịu án phí sơ thẩm.
Ngày 08/07/2022, bị đơn là ông S kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại bản án Dân sự phúc thẩm số 257/2022/DS-PT ngày 30/09/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử như sau:
- -Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông S; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 01/07/2022 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông S;
- -Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông S về số tiền vay 29.500.000.000 đồng vào ngày 02/10/2019 âm lịch.
Buộc ông S trả cho ông T số tiền vốn là 100.172.000.000 đồng và số tiền lãi là 21.425.277.000 đồng; tổng cộng vốn và lãi là 121.597.277.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Vào ngày 14/10/2022, Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định số 32/QĐ-SCBSBA để sửa chữa về ký hiệu của bản án phúc thẩm.
Vào ngày 15/06/2023, ông S có đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm nói trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại quyết định số 323/QĐ-VKS-DS ngày 20/11/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án phúc thẩm nói trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án phúc thẩm và hủy bản án sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 01/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
Lý do như sau:
- -Theo giấy biên nhận ngày 16/08/2019, ông T cho ông S và công ty S2 vay số tiền là 3.000.000.000 đồng. Sau đó, vào ngày 03/09/2019 và ngày 15/11/2019, công ty S2 đã lập 02 (hai) phiếu chi tiền, trả lại cho ông T tổng cộng là 2.500.000.000 đồng (ngày 03/09/2019: trả 1.000.000.000 đồng theo phiếu chi số PC19090010; ngay2/11/2019: trả 1.500.000.000 đồng theo phiếu chi số PC19110064). Trong quá trình xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều chưa làm rõ về những khoản tiền này (những khoản tiền mà công ty S2 đã trả cho ông T);
- -Theo giấy biên nhận ngày 08/04/2020 Âm lịch (là ngày 30/04/2020 Dương lịch), thì ông S vay số tiền 97.172.000.000 đồng của ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T (do ông Nguyễn Phước D đại diện) cho rằng khoản tiền này bắt nguồn do việc mua-bán thanh long (ông T là người bán; ông S là người mua) giữa hai bên. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, ông T (do ông Nguyễn Phước D đại diện) lại cho rằng khoản tiền 97.172.000.000 đồng vừa là tiền vay, vừa là tiền mua-bán thanh long. Tại bản kê chi tiết công nợ phải trả của công ty S2, tính từ ngày 01/06/2018 cho đến ngày 19/04/2022 đối với nhà cung cấp Trần Văn T, tài liệu này thể hiện như sau: số tiền phát sinh nợ là 6.487.491.500 đồng; số phát sinh có, là 8.352.400.500 đồng; tổng số dư có, là 2.562.625.500 đồng. Nếu so sánh tài liệu này với giấy biên nhận ngày 08/04/2020 Âm lịch, thì có sự chênh lệch rất lớn mà Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều chưa làm rõ lý do. Mặt khác, nếu theo sự thừa nhận của ông T khi cho rằng số tiền 97.172.000.000 đồng đã bao gồm tiền mua-bán thanh long và tiền vay, thì việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên buộc ông S phải trả tổng cộng hai khoản tiền (tiền vay 3.000.000.000 đồng + tiền mua-bán thanh long 97.172.000.000 đồng), là mâu thuẫn trong việc đánh giá chứng cứ;
- -Theo phiếu chỉ số PC19020121 ngày 28/02/2019, công ty S2 trả cho ông T số tiền những khoản tiền sau đây: số tiền 105.000.000 đồng để trả lãi của khoản vay 6.000.000.000 đồng vào ngày 27 và 28/02/2019; ngày 19/03/2019, trả 7.070.000.000 đồng để trả tiền mượn ngoài (tiền gốc và tiền lãi) của ngày 19/03/2019; ngày 08/04/2019, trả 8.686.000.000 đồng và ngày 09/04/2019 trả 4.040.000.000 đồng; ngày 10/04/2019: trả số tiền 3.737.000.000 (gốc và lãi). Căn cứ vào những chứng cứ vừa nêu ra, có căn cứ xác định rằng giao dịch giữa ông T và ông S là giao dịch vay tiền tính theo ngày, lãi suất là 10%/ngày, tương đương 3.650%/năm.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị nói trên của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]Về tổ chức và hoạt động của công ty TNHH S2:
Công ty TNHH S2 có trụ sở chính đặt tại số B, quốc lộ E, ấp C xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; vốn điều lệ là 100.000.000.000 do hai thành viên góp vốn là ông Đoàn Văn S1 (góp 50%) và ông Trần Văn S (góp 50%) (giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký lần đầu vào ngày 10/11/2015-bút lục 90-TAND Tp.).
Theo biên bản họp hội đồng thành viên vào ngày 16/10/2020, công ty TNHH S2 có thêm 02 (hai) thành viên góp vốn mới (là ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị M1-bút lục 25-TAND Tp.).
[2]Ông Trần Văn T khởi kiện, đòi ông Trần Văn S phải trả số tiền vốn gốc là 100.172.000.000 đồng và số tiền lãi là 21.425.277.000 đồng; chứng cứ mà ông Trần Văn T xuất trình là 02 (hai) giấy biên nhận sau đây:
- -Biên nhận là “Giấy mượng tiền” ghi ngày 16/08/2019 Dương lịch (là ngày 16/07/2019 Âm lịch), số tiền vay là 3.000.000.000 đồng; thời hạn vay cho đến ngày 23/08/2019, có trả lãi nhưng không ghi lãi suất; bên cạnh chữ ký của ông Trần Văn S, có đóng dấu của công ty TNHH S2;
- -Biên nhận là “Giấy vay tiền” ghi ngày 08/04/2020 Âm lịch; số tiền vay là 97.172.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 ngày, không thỏa thuận trả tiền lãi; giấy biên nhận này chỉ có chữ ký của ông Trần Văn S.
[3]Đánh giá về 02 (hai) giấy biên nhận nói trên:
[3.1]Xét về giấy biên nhận là “Giấy mượng tiền” ghi ngày 16/08/2019 Dương lịch (là ngày 16/07/2019 Âm lịch), số tiền vay là 3.000.000.000 đồng, có chữ ký của ông Trần Văn S và đóng dấu của công ty TNHH S2:
- -Theo phiếu chi số PC19090010 ngày 03/09/2019 của công ty TNHH S2, công ty trả cho ông Trần Văn T (tên ghi trong phiếu chi là “anh L”-tức là ông Trần Văn T, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên L2-bút lục 09-TAND Tp.) số tiền là 1.000.000.000 đồng;
- -Theo phiếu chi số PC19110064 ngày 15/11/2019 của công ty TNHH S2, công ty trả cho ông Trần Văn T số tiền là 1.500.000.000 đồng.
Như vậy, theo 02 phiếu chi nói trên, thì sau ngày vay tiền (16/08/2019), công ty TNHH S2 đã trả cho ông Trần Văn T một khoản tiền là 2.500.000.000 đồng.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều chưa xác minh, làm rõ về những khoản tiền nói trên trong mối liên hệ với khoản tiền theo giấy biên nhận 16/08/2019.
[3.2]Xét về giấy biên nhận là “Giấy vay tiền” ghi ngày 08/04/2020 Âm lịch; số tiền vay là 97.172.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 ngày:
Theo ông Trần Văn T, thì khoản tiền nói trên xuất phát từ giao dịch mua-bán thanh long giữa hai bên (ông Trần Văn T là người bán; ông Trần Văn S là người mua), rồi tổng kết lại thành số nợ là 97.172.000.000 đồng.
Như vậy, khoản nợ nói trên, xét về mặt thời gian, đã có từ trước khi thiết lập giấy biên nhận ngày 08/04/2020 Âm lịch, không phải là một khoản tiền vay thực hiện như hình thức và nội dung của giấy biên nhận đã thiết lập. Trong trường hợp đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cần thiết phải yêu cầu ông Trần Văn T xuất trình tài liệu, chứng cứ để đối chiếu, xem xét, đánh giá về quá trình giao dịch (mua-bán thanh long) giữa hai bên, bởi vì đây là khoản tiền rất lớn và diễn ra trong một khoảng thời gian dài. Sự việc này, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều chưa thực hiện, mà chỉ căn cứ vào giấy biên nhận, rồi xét xử, buộc ông Trần Văn S phải trả nợ, là chưa đủ căn cứ pháp luật.
[4]Một vấn đề khác cũng cần lưu ý, đó là trong khoảng thời gian từ ngày 28/02/2019 cho đến ngày 10/04/2019, công ty TNHH S2 đã phải trả cho ông Trần Văn T số tiền vốn và lãi, tổng cộng là 23.638.000.000 đồng (trả 105.000.000 đồng để trả lãi của khoản vay 6.000.000.000 đồng vào ngày 27 và 28/02/2019; ngày 19/03/2019, trả 7.070.000.000 đồng để trả tiền gốc và tiền lãi của ngày 19/03/2019; ngày 08/04/2019, trả 8.686.000.000 đồng và ngày 09/04/2019 trả 4.040.000.000 đồng; ngày 10/04/2019, trả số tiền 3.737.000.000 vốn gốc và lãi).
Sự việc trả tiền vốn và tiền lãi nói trên, có thể là giao dịch vay tiền tính theo ngày, lãi suất là là 10%/ngày (tức là 3.650%/năm), vượt quá quy định của pháp luật dân sự chi phối việc vay tiền giữa hai bên. Trong trường hợp đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ, bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Chấp nhận kháng nghị số 323/QĐ-VKS-DS ngày 20/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy bản án Dân sự phúc thẩm số 257/2022/DS-PT ngày 30/09/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (kèm theo quyết định sửa chữa, bổ sung bản án án, số 32/QĐ-SCBSBA ngày 14/10/2022) và hủy bản án Dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 01/07/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử vụ án “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông Trần Văn T; bị đơn là ông Trần Văn S (và những khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Nơi nhận:
| TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Quyết định số 171/2024/DS-GĐT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số quyết định: 171/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị số 323/QĐ-VKS-DS ngày 20/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy bản án Dân sự phúc thẩm số 257/2022/DS-PT ngày 30/09/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (kèm theo quyết định sửa chữa, bổ sung bản án án, số 32/QĐ-SCBSBA ngày 14/10/2022) và hủy bản án Dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 01/07/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
