TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA Số:17/2025/QĐST-HNGĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc B, ngày 04 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 29, Điều 397, Điều 212, Điều 213, Khoản 3 Điều 144, khoản 2 Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 55, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Điều 6, khoản 1 Điều 35, Điều 36, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 35/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con khi ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: 1, chị Trịnh Thị T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Tổ 108, thôn Cổ Đam, phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá
2, anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, thành phố P, tỉnh Hà Nam
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Đức L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình, vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn B, xã Đ, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được thời gian đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Gia đình hai bên cũng đã hoà giải, động viên khuyên bảo vợ chồng nhiều lần để chung sống hoà thuận nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2024 đến nay không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung với nhau nữa. Vì vậy, hai bên thống nhất yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Xét việc thuận tình ly hôn của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội nên Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Đức L.
[2] Về con chung: Vợ chồng thống nhất có một con chung là Nguyễn Linh Đ (giới tính: nữ), sinh ngày 14/8/2020. Sau khi ly hôn hai bên thoả thuận giao cháu Đ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T mỗi tháng 2.000.000 đ (hai triệu đồng). Khoản cấp dưỡng tính từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi cháu Đan thành N và có khả năng lao động.
[3] Về tài sản chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về lệ phí ly hôn: Lệ phí ly hôn sơ thẩm chị Trịnh Thị T nộp 150.000đ, anh Nguyễn Đức L nộp 150.000đ. Hai bên thỏa thuận chị T nộp thay phần lệ phí ly hôn cho anh L.
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của những người yêu cầu được ghi trong biên bản ghi nhận hòa giải đoàn tụ không thành ngày 27 tháng 3 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Đức L.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Lệ phí ly hôn sơ thẩm: Anh Nguyễn Đức L và chị Trịnh Thị T mỗi người nộp 150.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm. Hai bên thỏa thuận chị T nộp thay lệ phí ly hôn cho anh L được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, theo biên lai thu số: 0004713 ngày 14/3/2025. Như vậy, anh L, chị T đã nộp đủ lệ phí ly hôn sơ thẩm.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| THẨM PHÁN TỐNG THỊ HÀ |
Quyết định số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
- Số quyết định: 17/2025/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Đức L. - Về con chung: Vợ chồng thống nhất giao cháu Nguyễn Linh Đ (giới tính: nữ), sinh ngày 14/8/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Khoản cấp dưỡng tính từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi cháu Đ đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung. -Về tài sản chung: Vợ chồng không yêu cầu Toà án giải quyết.
