Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 17/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11 - 6 - 2025

V/v Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Ông Nông Khắc Huy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thúy Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 47/2025/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 07/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thúy T, sinh năm 1990/ có mặt.
Nơi cư trú: Xóm N, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1994/ vắng mặt lần thứ hai.
Nơi cư trú: Xóm N, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nguyên đơn là chị Phạm Thị Thúy T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau tháng 5 năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, việc kết hôn là do hai người tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận chỉ được thời gian đầu, sau đó vợ chồng phát sinh nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai người không có sự hòa hợp nhau. Vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân được một thời gian, hiện không ai quan tâm đến ai. Bản thân chị nhận thấy cuộc hôn nhân không còn hòa thuận, hạnh phúc, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phạm Thị T1 T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 10/5/2022. Khi ly hôn chị Phạm Thị Thúy T đồng ý để anh B trực tiếp nuôi con vì con đang ở với anh B, cuộc sống đang ổn định. Còn chị T đi làm công nhân xa nhà phải ở trọ nên không thể mang con theo.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Phạm Thị Thúy T xác định vợ chồng không có nợ chung.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn B trình bày: Anh và chị Phạm Thị Thúy T kết hôn với nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ. Quá trình chung sống theo anh Nguyễn Văn B vợ chồng không có mâu thuẫn, cãi vã gì. Tự chị T đi làm công ty rồi về làm đơn ly hôn anh. Anh B xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không nhất trí ly hôn với chị Phạm Thị Thúy T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 10/5/2022. Nếu ly hôn anh Nguyễn Văn B nhận nuôi con, yêu cầu chị Phạm Thị Thúy T phải cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/ tháng.

Về tài sản chung: Không có.

Công nợ chung: Theo anh Nguyễn Văn B thì vợ chồng có nhờ bố anh vay hộ 20.000.000đ của Công ty N, anh yêu cầu chị T phải có trách nhiệm trả 10.000.000đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng báo cho anh Nguyễn Văn B biết phải đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh B không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Các bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu quan điểm đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn”, căn cứ Điều 28, 35, 39 BLTTDS Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự (nguyên đơn) kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Không có vi phạm, không có đề xuất hay kiến nghị gì.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Thúy T. Cho chị Phạm Thị Thúy T được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 10/5/2022 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Chị Phạm Thị Thúy T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Thúy T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn B mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thúy T khởi kiện xin ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Văn B, bị đơn đang cư trú tại xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Nguyễn Văn B không đến tham gia phiên hòa giải và tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử vụ án, vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn B.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thúy T và anh Nguyễn Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kêt hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Căn cứ lời khai của chị Phạm Thị Thúy T xác định được mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn sự hòa hợp và đã sống ly thân được một thời gian. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị Thúy T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và xin được ly hôn anh Nguyễn Văn B. Còn anh B không đến Tòa án giải để tham gia phiên hòa giải và cũng không có cách nào tự hòa giải đoàn tụ với chị Phạm Thị Thúy T, không có cách nào thuyết phục được chị Phạm Thị Thúy T rút đơn quay về chung sống với anh. Hội đồng xét xử xét thấy chị Phạm Thị Thúy T và anh Nguyễn Văn B đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn, hai bên không còn tìm thấy sự đồng điệu, gắn bó, sẻ chia trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, hai người đã sống ly thân không còn khả năng đoàn tụ, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thúy T được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Phạm Thị Thúy T được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

[3] Về con chung: Chị Phạm Thị Thúy T và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung là Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 10/5/2022. Nếu ly hôn anh B nhận trực tiếp nuôi con vì chị T không có chỗ ở ổn định. Chị T nhất trí để anh B trực tiếp nuôi con, do đó cần giao con cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh B.

Về mức cấp dưỡng nuôi con anh B yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/ tháng, chị T có ý kiến sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét thấy mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/ tháng là phù hợp với pháp luật, phù hợp điều kiện của chị T và phù hợp với yêu cầu thực tế cuộc sống hiện nay của con nên cần buộc chị T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh B mỗi tháng 2.000.000 đồng.

[4] Về tài sản chung: Hai bên đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị Phạm Thị Thúy T xác định vợ chồng không có nợ chung. Còn anh Nguyễn Văn B thì xác định vợ chồng có nhờ bố anh vay hộ 20.000.000đ của Công ty N, anh yêu cầu chị T phải có trách nhiệm trả 10.000.000đ. Tuy nhiên anh B không đến Tòa án giải quyết cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh vợ chồng có nợ chung, do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét giải quyết và xác định chị T, anh B không có nợ chung.

[6] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Phạm Thị Thúy T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 174, 177, Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56; 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Thúy T, cho chị Phạm Thị Thúy T được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

[2]. Về con chung: Giao con là Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 10/5/2022 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Chị Phạm Thị Thúy T có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Thúy T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn B mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày 01/7/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ phải thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian chưa thi hành.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Tài sản chung: Không có.

[4]. Về nợ chung: Không có.

[5]. Án phí: Chị Phạm Thị Thúy T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007445 ngày 17/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chị Phạm Thị Thúy T còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nộp ngân sách Nhà nước.

[6]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn là chị Phạm Thị Thúy T biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là anh Nguyễn Văn B vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - THADS huyện Đ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã N;
  • - Lưu VT, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp về ly hôn

  • Số quyết định: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Thúy T, cho chị Phạm Thị Thúy T được ly hôn anh Nguyễn Văn B. [2]. Về con chung: Giao con là Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 10/5/2022 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Chị Phạm Thị Thúy T có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger