TÒA ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/DS - ST Ngày: 14/5/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Trình
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Toàn
- Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt
- - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thái Trâm Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 272/2023/DS - ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc “ Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
- Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm - Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Nguyễn Vân Thuỳ - Chức vụ: Trưởng PGD Chợ Cồn, theo giấy ủy quyền số 3272/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022 của Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín; Bà Huỳnh Thị Vân Thuỳ ủy quyền cho ông Đặng Đình Hiếu - chức vụ: Chuyên viên khách hàng tham gia tố tụng. (Văn bản ủy quyền số 43/2023/UQ-PGDCC ngày 15 tháng 8 năm 2023).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng H Sinh năm: 1977. Địa chỉ: K81/12 Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên chiểu, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn-Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín trình bày:
1
Ngày 25/9/2018, ông Nguyễn Trọng H ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Trọng H, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng thẻ là 20.000.000đ. Mục đích vay tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ, ông Nguyễn Trọng H đã sử dụng thẻ và thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 700.037.639đ.
Tính đến ngày 22/9/2021, ông Nguyễn Trọng H đã thanh toán cho Ngân hàng các khoản với số tiền 680.888.000đ.
Quá trình sử dụng thẻ, ông Nguyễn Trọng H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhỡ ông Nguyễn Trọng H trả nợ nhưng ông H không có thiện chí nên ngày 23/12/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Do vậy, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giải quyết buộc bà ông Nguyễn Trọng H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền là: 24.101.745đ.
Trước đây, Ngân hàng có yêu cầu tính tiền lãi đối với ông Nguyễn Trọng H (tính đến ngày 13/5/2024 là 25.410.252đ), tuy nhiên, xét thấy ông H có khó khăn nên tại phiên tòa, Ngân hàng rút một phần khởi kiện không yêu cầu tính tiền lãi đối với ông Nguyễn Trọng H, kể cả lãi suất theo hợp đồng.
* Bị đơn là ông Nguyễn Trọng H không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
* Tại phiên tòa, Đại diện VKSND quận Liên Chiểu, phát biểu quan điểm:
- + Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về người tham gia tố tụng:
- * Đối với nguyên đơn: Chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 234 BLTTDS.
- * Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai là chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTD, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227 BLTTDS, xử vắng mặt bị đơn.
- + Về nội dung: Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP phần Sài Gòn Thương Tín và ông Nguyễn Trọng H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như phiên toà hôm nay, Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trọng H .
[2]. Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với ông Nguyễn Trọng H thì thấy:
Ngày 25/9/2018, ông Nguyễn Trọng H ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín để sử dụng thẻ tín dụng có hạn mức 20.000.000đ; mục đích để tiêu dùng cá nhân.
Quá trình thực hiện hợp đồng; Phía Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Trọng H ; đồng thời ông Nguyễn Trọng H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 700.037.639đ. Và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 680.888.000đ. Sau đó, ông H không thanh toán thêm bất cứ khoản nào mặt dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu thanh toán, nên ngày 23/12/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Do ông Nguyễn Trọng H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên sử dụng thẻ tín dụng về thời hạn thanh toán nợ, nên Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Trọng H phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ gốc là: 24.101.745đ.
Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng có yêu cầu tính tiền lãi đối với ông Nguyễn Trọng H (tính đến ngày 13/5/2024 tiền lãi là 25.410.252đ), tuy nhiên, tại phiên tòa, Ngân hàng rút một phần khởi kiện không yêu cầu tính tiền lãi (kể cả lãi suất theo hợp đồng) đối với ông Nguyễn Trọng H. Xét thấy việc rút một phần tiền lãi và không tính lãi tiếp theo của Ngân hàng đối với ông H trên tinh thần tự nguyện không trái pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, xử buộc ông Nguyễn Trọng H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc là: 24.101.745đ là phù hợp với đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông Nguyễn Trọng H phải chịu án phí DSST là 1.205.000 đồng.
3
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với ông Nguyễn Trọng H . Tuyên xử:
1. Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền gốc: 24.101.745 đồng (Hai mươi bốn triệu, một trăm lẻ một ngàn, bảy trăm bốn lăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Nguyễn Trọng H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì hàng tháng ông H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí DSST: Ông Nguyễn Trọng H phải chịu số tiền là 1.205.000đ.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 1.078.007 đồng, theo biên lai thu tiền số 0000381 ngày 26.12.2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Văn Trình |
4
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
6
7
Quyết định số 17/2024/DS - ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số quyết định: 17/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tranh chấp đối với ông Nguyễn Trọng Hùng.
