TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 168/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-6-2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thái Hòa
- Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường 6 - trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 223/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/5/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 1283/2025/TB-TA ngày 28/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1992.
Hộ khẩu thường trú: Số A, tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ tạm trú: B670, tổ A, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: Công ty TNHH H1, cổng 2, khu công nghiệp L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983.
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ cư trú: 43/3, tổ B, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T1 sau một thời gian quen biết và tìm hiểu, phát sinh tình cảm và quyết định đi đến hôn nhân. Vào năm 2014 ông bà quyết định đi đến hôn nhân và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không có sự cưỡng ép. Từ khi kết hôn, vợ chồng ông bà đã có những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân nhưng cả hai đã cố gắng khắc phục để tiếp tục cuộc sống vợ chồng. Thế nhưng những mâu thuẫn đó, ngày càng trầm trọng và gay gắt hơn. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hoà hợp và không còn yêu thương nhau. Vì vậy, bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã hết sức trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T đề nghị Tòa án được ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Bà T, ông T1 có 01 con chung tên Nguyễn Phúc Đăng K, sinh ngày 08/9/2015. Ly hôn, bà T yêu cầu giao cháu Đăng K cho ông T1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu. Tạm thời bà T không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên bà T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án xác minh địa chỉ cư trú tại Công an phường L, thành phố B ngày 13/02/2025, theo nội dung văn bản xác minh thì ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983 có đăng ký thường trú tại địa chỉ tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và hiện thực tế cư trú tại địa chỉ 4, tổ B, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông T1 theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, ông T1 vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý đến tại phiên tòa hôm nay, đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
- + Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1:
Về quan hệ hôn nhân cho bà T được ly hôn với ông Tổng
Về con chung: bà T khai có 01 con chung tên Nguyễn Phúc Đăng K, sinh ngày 08/9/2015. Ly hôn, bà T yêu cầu giao cháu Đăng K cho ông T1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu. Tạm thời bà T không cấp dưỡng nuôi con. Do cháu Nguyễn Phúc Đăng K đang do ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị giao cháu Nguyễn Phúc Đăng K, sinh ngày 08/9/2015 cho ông Nguyễn Văn T1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau ly hôn. Tạm thời bà T không cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: Bà T khai tự thỏa thuận, ông T1 vắng mặt không có ý kiến nên không xem xét, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu;
Về nợ chung: Do bà T khai không có nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp
Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn T1. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà T là nguyên đơn, ông T1 là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
[2] Về thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Văn T1 có địa chỉ thường trú và hiện đang cư trú phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về thủ tục tố tụng khác:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T1 theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông T1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T, ông T1 theo quy định của pháp luật.
[4]. Về nội dung tranh chấp
[4.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 373/2014, ngày 10/3/2014. Theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung 2010) xác định hôn nhân của bà T và ông T1 là hợp pháp.
Xét thấy, bà T xác định vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không có hạnh phúc, vợ chồng đã cố gắng hòa giải những mâu thuẫn để hàn gắn, đoàn tụ nhưng không thành. Hiện nay bà T và ông T1 đã ly thân nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với ông T1.
Đối với ông T1, theo kết quả xác minh tại Công an phường L ngày 13/02/2025 xác định hiện nay ông T1 vẫn cư trú tại địa phương (Bút lục 31). Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T1 theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông T1 vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và phiên tòa là không thực hiện đúng nghĩa vụ của bị đơn, từ đó cho thấy ông T1 có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân của hai người, không có ý định hòa giải, đoàn tụ. Mặc dù biên bản xác minh mâu thuẫn tại địa phương nơi bà T và ông T1 sinh sống xác định trong cuộc sống hôn nhân của bà T, ông T1 có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được vì các đương sự không trình báo với địa phương, không yêu cầu địa phương can thiệp, hòa giải. Nhưng tại “Đơn yêu cầu xác minh mâu thuẫn vợ chồng” gửi Ủy ban nhân dân phường L, của bà T nộp kèm đơn khởi kiện có xác nhận giữa bà T và ông T1 có xảy ra mâu thuẫn (bút lục 15).
Như vậy, cuộc sống hôn nhân của bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Về con chung:
Bà Nguyễn Thị T khai bà và ông T1 có 01 con chung tên Nguyễn Phúc Đăng K, sinh ngày 08/9/2015. Bà T yêu cầu giao cháu Đăng K cho ông T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị T trình bày: bà đang mắc rất nhiều bệnh, hiện nay bà phải thường xuyên thăm khám và chữa bệnh tại bệnh viện nên không đủ sức khỏe để chăm con. Do đó bà nhường quyền trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu K cho ông T1, tạm thời bà không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, qua xác minh Ủy ban nhân dân phường L cung cấp thông tin: hiện nay cháu Nguyễn Phúc Đăng K đang sinh sống cùng ông Nguyễn Văn T1. Các tài liệu chứng cứ do bà Nguyễn Thị T cung cấp thể hiện bà T bị bệnh thoái hóa khớp gối, suy tĩnh mạch và các bệnh khác. Hội đồng xét xử nhận thấy bà T sức khỏe không đảm bảo, việc điều trị bệnh ảnh hưởng đến thời gian chăm con cũng như kinh tế để nuôi con. Do đó chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Nguyễn Phúc Đăng K cho ông T1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông T1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến và yêu cầu về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Ông T1, bà T có quyền khởi kiện bằng vụ án khác về thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
[4.3] Về tài sản chung:
Bà Nguyễn Thị T khai tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, ông T1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Ông T1, bà T có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[4.4] Về nợ chung:
Bà Nguyễn Thị T khai không có, không yêu cầu giải quyết, ông T1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 68, Khoản 4 Điều 147, 220, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); các Điều 51, 56, 57, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Văn T1.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc Đăng K, sinh ngày 08/9/2015 cho ông Nguyễn Văn T1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời, bà Nguyễn Thị T không cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị T không trực tiếp nuôi cháu K có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T khai tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết, ông T1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến về vấn đề tài sản nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Ông T1, bà T có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
- - Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu giải quyết, ông T1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005282 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; bà T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phú |
Quyết định số 168/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số quyết định: 168/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
