Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 164/2022/QĐST-HNGĐ

Hà Tĩnh, ngày 30 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Quang Năng

Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Minh Hiền

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 165/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 172/2022/QĐ-TA ngày 16/12/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

  1. Chị Nguyễn Thị B; S năm 1994
  2. Nơi ĐKNKTT: Thôn Đồng Thành, xã Thanh Bình Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (xin vắng mặt)

  3. Anh Phan Văn V; S năm 1994
  4. Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn Đồng Thành, xã Đức Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai của chị Nguyễn Thị B và ý kiến trình bày của anh Phan Văn V, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Phan Văn V tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, kết hôn hợp pháp với nhau vào ngày 17/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đức Thịnh (nay là xã Thanh Bình Thịnh) huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 3 tháng thì anh V đi lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng vẫn tình cảm và thường xuyên liên lạc. Đến năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng nhau, theo anh V thì chị B đã có người khác nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa. Nay vợ chồng không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên thống nhất thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Phan V Quế L, S ngày 21/02/2016. Vợ chồng thỏa thuận giao con cho anh V chăm sóc nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng thỏa thuận giao con cho anh Phan Văn V chăm sóc nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Chị B trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh V tại Đài Loan mà chỉ biết anh V thường xuyên gọi điện về cho gia đình anh ở thôn Đồng Thành, xã Thanh Bình Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Chị đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của anh V qua gia đình anh.

Do điều kiện công việc nên anh V không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn nên anh yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn và ủy quyền cho bố anh là ông Phan Văn S; Trú tại: thôn Đồng Thành, xã Thanh Bình Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giao nhận tài liệu, chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

Anh Phan Văn V hiện đang lao động tại Đài Loan. Theo công văn số 20367/QLXNC- P5 30/9/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh thì anh Phan Văn V đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần xuất cảnh gần đây nhất là ngày 26/9/2018 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tuy anh V thường xuyên liên lạc với gia đình tại thôn Đồng Thành, xã Thanh Bình Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Gia đình anh vẫn liên lạc với anh nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh V. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình, vì điều kiện công việc anh Phan Văn V không thể về Việt Nam được nên anh đề nghị giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố là ông Phan Văn S giao nhận các tài liệu. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Phan Văn V theo thủ tục chung

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

chị Nguyễn Thị B và anh Phan Văn V đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 17/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đức Thịnh (nay là xã Thanh Bình Thịnh) huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh V và chị B sống hạnh phúc được 3 tháng thì anh V đi lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu hai vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Đến năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng ghen tuông, thiếu tin tưởng nhau nên dẫn đến cãi vã. Theo anh V thì chị B đã có người khác và vợ chồng cắt đứt liên lạc với nhau. Vợ chồng không có điều kiện chung sống, không được gần gũi nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được. Nay các đương sự đều tự nhận thấy tình cảm không còn và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân của anh V và chị B không đạt được mục đích đó.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Như vậy, chị Nguyễn Thị B và anh Phan Văn V đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

[2.2] Về con chung:

Vợ chồng có một con chung là Phan V Quế L, S ngày 21/02/2016. Vợ chồng thỏa thuận giao con cho anh V chăm sóc nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[3] Về lệ phí:

Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000₫ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị B.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Phan Văn V.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Phan V Quế L, S ngày 21/02/2016 cho anh Phan Văn V chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị B được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000₫ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị B (đã nộp 300.000₫ tại biên lai số 0000283 ngày 05/10/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
  4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Thanh Bình Thịnh;
  • - Đương sự ;
  • - Lưu HS, TDS.

THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP

Bùi Quang Năng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 164/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/12/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 164/2022/QĐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2022
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị B xin ly hôn anh Phan Văn V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger