TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ Bản án số:16/2024/DS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn
- Ông Bùi Trung Thành
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 39/2024/TLST - DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số:76/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần M1
Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1 – Chức vụ: Trường phòng xử lý nợ miền bắc (Văn bản ủy quyền số 02/2024/UQ-MARS ngày 19/4/2024).
Người được ủy quyền lại: Ông Trần Tất Đ – Chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số: 04/2024/UQ-MARS.VPB ngày 04/9/2024).
Địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà T, lô B, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Ông Lê Văn L – sinh năm: 1992
Địa chỉ: Làng T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà có mặt đại diện công ty cổ phần M1 ông Trần Tất Đ, vắng mặt ông Lê Văn L không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn ông Trần Tất Đ trình bày: Ngân hàng TMCP V (V1) và Công ty TNHH MTV M1 (Nay là Công ty cổ phần M1) đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ số: 01/2023/VPB-MARS, số: 02/2023/VPB-MARS và Phụ lục 01 ngày 29/12/2023. Theo đó, V1 đồng ý bán và M đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là ông Lê Văn L bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng. Hợp đồng cho vay mà ông Lê Văn L đã ký kết với V1. Cụ thể ông Lê Văn L vay vốn của V1 theo các hợp đồng như sau:
- Hợp đồng cho vay: số LN2012213178927 ngày 24/12/2020; số LD2123600888 ngày 24/08/2021; số LD2209700162 ngày 07/04/2022
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của các hợp đồng tín dụng nêu trên ông Lê Văn L đã thế chấp tài sản gồm:
Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại; Thửa đất số 94, tờ bản đồ số 28, diện tích 1593.7m² tại Làng T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Lê Văn L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số; CY 524869 do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 17/11/2020. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số LN2012213178927 ngày 24/12/2020; số công chứng 11824, quyền số 04/2020 TP/CC-SCC-HĐGD được lập tại Văn phòng C.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay: V1 đã thông báo với ông L về nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, ông L vẫn không thực hiện theo đúng cam kết với V1, vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay ông L đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 16/01/2023
Nay Công ty cổ phần M1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn L phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với Công ty cổ phần M1 trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 1.129.175.318 (Một tỉ một trăm hai mươi chín triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm mười tám đồng) trong đó:
- - Nợ gốc là: 816.960.850 (Tám trăm mười sáu triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, tám trăm năm mươi đồng)
- - Nợ lãi là: 268.289.941đ (Hai trăm sáu mươi tám triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm bốn mươi mốt đồng)
- - Nợ lãi chậm trả: 43.924.527đ (Bốn mươi ba triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn, năm trăm hai mươi bảy đồng)
Tiền lãi phát sinh đến ngày thực trả cho đến khi trả hết nợ. Thời gian thực hiện một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Nếu ông Lê Văn L không thực hiện thì Công ty cổ phần M1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp số: LN2012213178927 ngày 24/12/2020; số công chứng 11824, quyền số 04/2020 TP/CC-SCC - HĐGD được lập tại Văn phòng C, bao gồm các phụ lục kèm theo để trả nợ cho ngân hàng.
Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Lê Văn L tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ với Công ty cổ phần M1.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Văn L để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M1 nhưng ông L đều vắng mặt không lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án.
* Phần tranh tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa đại diện Công ty cổ phần M1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, và ý kiến trong quá trình giải quyết mà không sửa đổi bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Công ty cổ phần M1 đồng ý thống nhất chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử là đúng quy định của pháp luật. Việc ông Lê Văn L không có mặt tại địa phương không thông báo cho chính quyền địa phương và phía nguyên đơn biết nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với nguyên đơn, việc Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung là đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M1. Buộc ông Lê Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa Công ty cổ phần M1 với ông Lê Văn L là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc được quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông Lê Văn L đều vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt L và đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho người vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ ông L đến phiên hoà giải nhưng ông L không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ ông Lê Văn L lần thứ hai đến để tham gia phiên toà nhưng ông L đều vắng mặt không có lý do, do đó căn cứ vào quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Lê Văn L.
[2] Về nội dung tranh chấp: Ngân hàng V1 ký kết với ông Lê Văn L các hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- - Hợp đồng cho vay số: LN2012213178927 ngày 24/12/2020: số tiền được cho vay theo hợp đồng là 690.000.000 đồng, mục đích sử dụng vốn là bổ sung vốn kinh doanh thu mua buôn bán lâm sản vườn, thời hạn vay vốn là 24 tháng, số tiền thực tế nhận nợ là 690.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ ngày 31/12/2021.
- - Hợp đồng cho vay số: LD2123600888 ngày 24/08/2021 số tiền vay: 100.000.000 đồng, mục đích vay vốn, phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng.
- - Hợp đồng cho vay số : LD2209700162 ngày 07/04/2022 số tiền vay: 56.000.000 đồng, mục đích vay vốn, phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng
Hợp đồng cấp tín dụng đúng với chức năng hoạt động của Ngân hàng, các bên ký hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không khiếu nại nội dung của hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng tín dụng nói trên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thi hành, đến thời hạn bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết.
[3] Về lãi suất:
- Theo Hợp đồng cho vay số LN2012213178927 ngày 24/12/2020:
- + Khế ước nhận nợ ngày 31/12/2021: số tiền vay: 690.000.000 đồng, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 8,0%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần, mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm;
- + Hợp đồng cho vay số: LD2123600888 ngày 24/08/2021. Số tiền vay: 100.000.000 đồng; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 19%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện định kỳ vào các ngày theo quy định tại hợp đồng, Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay, mức lãi suất tham chiếu được xác định theo biểu lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân tại V1.
- + Hợp đồng cho vay số: LD2209700162 ngày 07/04/2022 Số tiền vay: 59.000.000 đồng; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 22%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần, mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay, mức lãi suất tham chiếu được xác định theo biểu lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân tại V1
Lãi suất quá hạn của các khoản vay trên bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả: 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả.
Việc thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và điều chỉnh lãi suất đều đúng thỏa thuận, là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, được quy định tại Điều 468 BLDS; Điều 100 và 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 và Thông tư số: 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N, các Điều 7,8,10,13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Ngân hàng yêu cầu bên vay trả các khoản lãi từ ngày bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ được chấp nhận.
[5] Ngày 29/12/2023 giữa Ngân hàng TMCP V và Công ty TNHH một thành viên M1 (nay là Công ty cổ phần M1) đã ký kết hợp đồng mua bán nợ. Theo hợp đồng số 01/2023/VPB - MARS kèm theo Phụ lục 01 ngày 29/12/2023 thì Bên bán nợ là Ngân hàng TMCP V sẽ chuyển giao quyền sở hữu các khoản nợ trong đó có toàn bộ khoản nợ của ông Lê Văn L cho bên mua nợ là Công ty M1. Hợp đồng giữa các bên ký kết tuân thủ đúng quy định của pháp luật dân sự, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên đây là hợp đồng hợp pháp. Do đó, theo quy định tại khoản 4 Điều 74 BLTTDS và điểm b, c Điều 7 Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Công ty M1 được thừa kế đầy đủ quyền, nghĩa vụ của ngân hàng TMCP V đối với toàn bộ khoản vay nợ của ông Lê Văn L đã vay ngân hàng và quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
[6] Trên cơ sở các hợp đồng tín dụng: Tính đến ngày 30/9/2024, ông Lê Văn L còn nợ Công ty cổ phần M1 tổng số tiền cả gốc và lãi là: 1.129.175.318 (Một tỉ một trăm hai mươi chín triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm mười tám đồng) trong đó: Nợ gốc là: 816.960.850 (Tám trăm mười sáu triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, tám trăm năm mươi đồng): Nợ lãi là: 268.289.941đ (Hai trăm sáu mươi tám triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm bốn mươi mốt đồng): Nợ lãi chậm trả: 43.924.527đ (Bốn mươi ba triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn, năm trăm hai mươi bảy đồng).
Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bên cho vay khởi kiện yêu cầu bên vay phải trả nợ là có căn cứ, phù hợp Điều 466 BLDS và Điều 100 và 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 nên được chấp nhận, kể từ ngày 01/10/2024 bên vay còn phải chịu lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
[7] Tài sản thế chấp:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số LN2012213178927 ngày 24/12/2020 đối với toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 94, tờ bản đồ 28, địa chỉ: Làng T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 524869, số vào sổ cấp GCN: CH02181 do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 17/11/2020.
Việc thế chấp tài sản của ông Lê Văn L là tự nguyện, nội dung hợp đồng các bên không có tranh chấp, hợp đồng thế chấp được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Do bên thế chấp tài sản vi phạm nghĩa vụ trả nợ, theo quy định tại Điều 299 BLDS bên nhận thế chấp có quyền xử lý các tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Lê Văn L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả khoản nợ gốc, lãi và lãi phát sinh thì Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Trường hợp ông Lê Văn L tất toán toàn bộ khoản nợ trên thì Công ty cổ phần M1 phải trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho L. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 thì số tiền còn thừa phải trả lại cho bên thế chấp là ông Lê Văn L. Trường hợp phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ, thì ông L có trách nhiệm tiếp tục thực hiện việc trả các khoản tiền nợ gốc và lãi phát sinh cho đến khi hoàn tất xong các khoản nợ cho Công ty cổ phần M1.
[8] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ý kiến sẽ chịu toàn bộ chi phí này không yêu cầu tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm (DSST): Ông Lê Văn L phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần M1 số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp.
[10] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 74, khoản 1 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 292, 295, 296, 298, 299, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 100 và 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 và Thông tư số: 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N, các Điều 7, 8, 10, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm b, c khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty cổ phần M1, buộc ông Lê Văn L phải thanh toán cho Công ty cổ phần M1 tính đến ngày 30/9/2024, tổng số tiền cả gốc và lãi là: 1.129.175.318 (Một tỉ một trăm hai mươi chín triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm mười tám đồng) trong đó: Nợ gốc là: 816.960.850 (Tám trăm mười sáu triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, tám trăm năm mươi đồng): Nợ lãi là: 268.289.941đ (Hai trăm sáu mươi tám triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm bốn mươi mốt đồng): Nợ lãi chậm trả: 43.924.527đ (Bốn mươi ba triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn, năm trăm hai mươi bảy đồng).
- Kể từ ngày 01/10/2024, ông Lê Văn L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông L phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cổ phần M1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông Lê Văn L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 94, tờ bản đồ 28, địa chỉ: Làng T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 524869, số vào sổ cấp GCN: CH02181 do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 17/11/2020, theo Hợp đồng thế chấp số: LN2012213178927 ngày 24/12/2020.
- Trường hợp ông Lê Văn L tất toán toàn bộ khoản nợ trên thì Công ty cổ phần M1 phải trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho L. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 thì số tiền còn thừa phải trả lại cho bên thế chấp là Lê Văn L. Trường hợp phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ, thì ông L có trách nhiệm tiếp tục thực hiện việc trả các khoản tiền nợ gốc và lãi phát sinh cho đến khi hoàn tất xong các khoản nợ cho Công ty cổ phần M1 theo các hợp đồng mà ông L đã ký.
- Về án phí: Ông Lê Văn L phải chịu 45.875.259đ (Bốn mươi lăm triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm năm mươi chín đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty cổ phần M1 số tiền là: 21.955.400 (Hai mốt triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn bốn trăm đồng) tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004333 ngày 29/5/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Quyền kháng cáo: Công ty Cổ phần M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Trung Thành | Phạm Đức Hoàn | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |
Quyết định số 16/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 16/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự Hợp đồng tín dụng
