| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2024/QÐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 28 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 80/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2024 về “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định mở phiên họp số 14/2024/QĐ-ST ngày 14/6/2024 giữa những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1989; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm Văn P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, (hiện lao động tại Nhật Bản)
2. Chị Phan Thị D, sinh năm 1993; Trú tại: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
(Anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D thống nhất trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 21/12/2016 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân giữa hai người là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vả và không có tiếng nói chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là vào năm 2017, anh Nguyễn Đình L đi lao động tại Nhật bản, thỉnh thoảng có về thăm gia đình nhưng thời gian rất ít. Do khoảng cách về địa lý, vợ chồng không có điều kiện gần gũi, san sẻ tình cảm và đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được anh Nguyễn Đình L với chị Phan Thị D thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 13/5/2017. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho chị Phan Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Đình L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung một tháng 6.000.000 đồng đến khi cháu T tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không có tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D cũng trình bày hiện nay do không có điều kiện để tham gia giải quyết việc ly hôn nên đè nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, người yêu cầu giải quyết việc ly hôn và phân tích nội dung các đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng Điều 149, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm Tòa án thụ lý việc hôn nhân giữa các bên, chị Phan Thị D có mặt tại Việt Nam, còn anh Nguyễn Đình L đang lao động tại Nhật Bản và các tài liệu, chứng cứ anh D gửi về yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn đều có xác nhận của Đ tại Nhật Bản nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đồng thời chị Phan Thị D và anh Nguyễn Đình D1 đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc ly hôn vắng mặt anh L và chị D1 theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu do anh Nguyễn Đình L với chị Phan Thị D cung cấp cho Tòa án thể hiện hai người có đăng ký kết hôn vào ngày 21/12/2016 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh nên hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh L và chị D trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vả và không có tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không thể hàn gắn.
Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được và sự thỏa thuận của hai người là tự nguyện, không vi phạm điều cấm. Do đó, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D để hai người ổn định cuộc sống mới.
[2.2]. Quan hệ con chung: anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D đều thống nhất có 01 con chung là Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 13/5/2017. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho chị Phan Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Đình L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung một tháng 6.000.000 đồng đến khi cháu T tròn 18 tuổi.
Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và đảm bảo để con chung được chăm sóc, phát triển đầy đủ. Mặt khác, cháu Nguyễn Ngọc T đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần chấp nhận sự thỏa thuận giao con chung cho chị Phan Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Nguyễn Đình L đóng góp cấp dưỡng nuôi con như thỏa thuận của hai người là phù hợp.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Đình L và chị Phan Thị D
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 13/5/2017 cho chị Phan Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Đình L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 6.000.000 đồng đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Đình L có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con của chị Phan Thị D. Chị D đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000869, ngày 10/5/2024 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Phan Thị D còn phải nộp 150.000 đồng.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thương Huyền |
Quyết định số 16/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 16/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Luân và Phan Thị Dương yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn