Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 158/2025/QÐST-VHNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Trang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 173/2025/TLST-VHNGĐ ngày 22/05/2025, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”. Theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình số 69/QÐST-VHNGĐ ngày 23/05/2025 gồm:

Những người yêu cầu sau đây:

Ông PARK KWANG C, sinh ngày 26/01/1966

Quốc tịch: Hàn Quốc; Hộ chiếu số M77025733 do Bộ N cấp ngày 15/04/2019;

Nơi cư trú: S H-dong, Y-gu, S, Hàn Quốc. Ông Park Kwang C vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh ngày 22/02/1986

Căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/11/2021; Nơi thường trú: Tổ B P, quận L, thành phố Hà Nội. Bà H có mặt.

Ông PARK KWANG C ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Lệ H giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH:

Theo Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và bản tự khai của ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H cùng trình bày:

- Về tình cảm: Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày ngày 03 tháng 12 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân tỉnh T. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà cùng chung sống hạnh phúc một thời gian. Trong quá trình chung sống, ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông bà không tìm được tiếng nói chung, có nhiều khác biệt về văn hoá, lối sống, dẫn đến nhiều bất đồng không thể hòa giải. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng nhưng ông bà vẫn không tìm được biện pháp gì để hàn gắn, níu kéo cuộc sống chung và đều thống nhất ly hôn để giải thoát cho nhau. Đến nay, ông bà nhận thấy hai bên đã không còn

tình cảm, cuộc sống chung chỉ khiến cả hai mệt mỏi, căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông bà cùng thống nhất sẽ ly hôn để chấm dứt cuộc sống chung, mỗi người xây dựng lại cuộc sống mới. Vì vậy, ông bà đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giải quyết cho vợ chồng ông bà được ly hôn.

- Về con chung: Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H có 01 con chung là cháu Park Nguyễn Lâm V, sinh ngày 19/06/2013. Ly hôn, ông bà thoả thuận giao cháu V cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông bà tự thoả thuận về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, nhà ở và công nợ chung: ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí giải quyết ly hôn: Bà Nguyễn Thị Lệ H tự nguyện chịu toàn bộ.

Do điều kiện không thể về Việt Nam giải quyết được nên ông PARK KWANG C đã có Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai và xin giải quyết vắng mặt, ông PARK KWANG C ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Lệ H giao nộp và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã được hợp pháp hóa lãnh sự tại Đại sứ quán nước C1 tại Hàn Quốc.

Tại phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lệ H có mặt và giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Bà đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của ông bà là giao cháu Park Nguyễn Lâm V cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Ông bà tự thỏa thuận vấn đề cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nhà ở và công nợ chung. Bà H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết ly hôn.

Ông PARK KWANG C có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Lệ H đồng ý nhận sự ủy quyền của ông PARK KWANG C là giao nộp và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Bà H cam kết thông báo và gửi để ông PARK KWANG C được biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu:

Về tố tụng, việc Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Giao cháu Park Nguyễn Lâm V, sinh ngày 19/06/2013 cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H tự thỏa thuận vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Ông PARK KWANG C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Về tài sản chung, nhà ở chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: Bà H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H có đề nghị công nhận thuận tình ly hôn. Ông PARK KWANG C có Quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc nên theo quy định tại Điều 29 và Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

[2] Về nội dung: Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân tỉnh T vào ngày 03/12/2013. Cuộc sống chung vợ chồng sau hôn nhân hạnh phúc một thời gian ngắn, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về ngôn ngữ, lối sống, khác biệt về văn hóa mà không hòa giải được. Ông PARK KWANG C hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, chị H ở Việt Nam. Hai vợ chồng thực tế không còn chung sống với nhau. Hiện cả hai vợ chồng cùng xác định không còn tình cảm với nhau nữa nên cùng thống nhất thuận tình ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu thuận tình ly hôn của vợ chồng ông bà là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận.

Về con chung: Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H có 01 con chung là cháu Park Nguyễn Lâm V, sinh ngày 19/06/2013.

Ly hôn, ông bà thống nhất giao cháu Park Nguyễn Lâm V cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu V có đơn xin được ở với bà H nếu bố mẹ ly hôn. Ông bà tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Sự thỏa thuận của đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp nên ghi nhận. Ông PARK KWANG C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Sự thỏa thuận của đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp nên ghi nhận.

Về tài sản chung, nhà ở và công nợ chung: Ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Thị Lệ H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 29; Điểm b khoản 1 Điều 37; Khoản 2 Điều 67; Điều 143, 146, 149, 367, 369, 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, quyết định:

1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H.

2. Về con chung: Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H có 01 con chung là cháu Park Nguyễn Lâm V, sinh ngày 19/06/2013.

Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao cháu P Nguyễn Lâm V cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu P Nguyễn Lâm V đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Ông bà tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Ông PARK KWANG C có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nhà ở chung và công nợ chung: Ông PARK KWANG C và bà Nguyễn Thị Lệ H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4. Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Lệ H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0079569 ngày 22/5/2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Ghi nhận bà H đã nộp đủ lệ phí ly hôn sơ thẩm.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 30/05/2025.

Nơi nhận:

  • - Người yêu cầu;
  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
  • - UBND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Nguyễn Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 158/2025/QÐST-VHNGĐ ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 158/2025/QÐST-VHNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Park Kwang C - Nguyễn Thị Lệ H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger