Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53 /2024/HNGĐ - ST

Ngày 20 /6 /2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Ninh

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phạm Thu Hà

Ông Trần Xuân Giới

Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Cảnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy– Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử số III Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 65/2024/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 22/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2024/QĐST – DS ngày 10/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lý Thị H, sinh năm 1982.

    Nơi cư trú: thôn T T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N – vắng mặt (có đơn xin vắng mặt)

  2. Bị đơn: anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1982.

    Nơi cư trú: thôn T T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N- vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2024, các lời khai tại Toà án và tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nguyên đơn là chị Lý Thị H khai:

- Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh Nguyễn Thế A kết hôn là tự nguyện được UBND xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh (nay là xã Lê Lợi, thành phố Hạ Long) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/11/2004, trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu khoảng 2 năm và chưa ai có vợ có chồng, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn T T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N cho đến nay. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc hai bên không hợp, vợ chồng tôi không có tiếng nói chung, quan điểm sống khác nhau, hay cãi chửi nhau, anh Thế A hay uống rượu, bia không quan tâm đến gia đình con cái, mâu thuẫn kéo dài khoảng 3 năm nay, gia đình hai bên có hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thế A

- Về con chung: chị H và anh Nguyễn Thế A có 02 con chung là Nguyễn Thị Quỳnh C, sinh ngày 16/7/2003 và Nguyễn Trọng V, sinh ngày 18/4/2005; các con hiện đã thành niên, khỏe mạnh phát triển bình thường, vì vậy chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: chị H và anh Nguyễn Thế A không có tài sản chung, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 16/5/2024, có sự tham gia của lãnh đạo thôn T T, xã L, thành phố H L có nội dung:

Chị Lý Thị H và anh Nguyễn Thế A kết hôn với nhau khoảng năm 2004 và sinh sống tại thôn T T, xã L, thành phố H L, từ đó cho đến nay. quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và kéo dài khoảng ba năm nay, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh Thế A thường xuyên uống rượu, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn của hai vợ chồng trở nên gay gắt trầm trọng khoảng 01 năm trở lại đây, vì vậy dẫn đến chị H làm đơn ly hôn gửi Tòa án. Chị H và anh Thế A có 02 con chung, Nguyễn Thị Quỳnh C, sinh ngày 16/7/2003 và Nguyễn Trọng V, sinh ngày 18/4/2005, cháu C đã có gia đình riêng, cháu V đi nghĩa vụ quân sự. Hai vợ chồng ở chung với bố mẹ nên không có tài sản chung nào, do thực trạng mâu thuẫn của chị H, anh Thế A đã kéo dài, vì vậy, tổ dân thôn xóm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Thế A đến Tòa án làm việc, nhưng anh Nguyễn Thế A không chấp hành theo nội dung triệu tập của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: kể từ khi thụ ý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
  2. Về thẩm quyền: chị Lý Thị H là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Thế A, anh A có hộ khẩu thường trú tại thôn T T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: nguyên đơn là chị Lý Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Thế A được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

  3. Về Quan hệ hôn nhân:
  4. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Thị H và anh Nguyễn Thế A là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, anh A thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến vợ con và gia đình, vì vậy, quan hệ vợ chồng ngày càng căng thẳng, thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Chị H, anh A đã sống ly thân, không còn quan hệ tình cảm, không quan tâm đến nhau và được chứng minh tại biên bản xác minh ngày 16/5/2024 do Tòa án tiến hành, đã gây ảnh hưởng xấu đến quan hệ hôn nhân. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thế A, như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh A là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

  5. Về con chung:
  6. chị Lý Thị H và anh Nguyễn Thế A có 02 con chung là Nguyễn Thị Quỳnh C, sinh ngày 16/7/2003 và Nguyễn Trọng V, sinh ngày 18/4/2005. Các con chung hiện đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất, tâm thần, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không xét.

  7. Về tài sản chung:
  8. chị Lý Thị H xác định chị và anh Nguyễn Thế A không có tài sản chung, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không xét.

  9. Về nợ chung:
  10. không có.

  11. Về án phí:
  12. Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Lý Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thị H

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. chị Lý Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thế A.

  3. Về án phí dân sự:
  4. Chị Lý Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, được trừ đi số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số 0000576 ngày 25/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, chị H đã nộp đủ.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. chị Lý Thị H, anh Nguyễn Thế A có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hạ Long
  • - CCTHADS TP Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Lê Lợi, TP Hạ Long
  • - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Lê Hồng Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 53/2024/HNGĐ - ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn

  • Số quyết định: 53/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: công nhận thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger