TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Quyết định giám đốc thẩm Số: 155/2024/DS-GĐT Ngày: 11/06/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | ông Phan Thanh Tùng; |
| Các Thẩm phán: | ông Bùi Đức Xuân; |
| bà Trần Thị Thu Thủy. |
Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Quân, Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Xuân Lượng, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp vay tài sản và góp hụi” giữa các đương sự:
1/Nguyên đơn:
Bà Trần Thu N, sinh năm 1969;
Địa chỉ: 15/5 ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
2/Bị đơn:
2.1/Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1968;
2.2/Ông Phạm Thanh L1, sinh năm 1967;
Cùng địa chỉ: 1 ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Trần Thu N trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà Trần Thu N (bà N) và vợ-chồng bà Nguyễn Thị Ngọc L-ông Phạm Thanh L1 (bà L-ông L1) là giáo viên, quen biết với nhau đã nhiều năm. Vì vậy, bà N cho bà L-ông L1 vay tiền và tham gia góp hụi (do bà N làm chủ hụi). Khi vay tiền, hai bên thỏa thuận (bằng lời nói) rằng lãi suất 1%/tháng, không kỳ hạn,
vay tiền để sửa chữa nhà và lo chi phí cho con học đại học. Đến tháng 08/2022, sau khi hai bên kết toán số nợ, bà N nhiều lần đòi nhưng bà L-ông L1 không trả nợ.
Do đó, bà N khởi kiện, đòi bà L-ông L1 phải trả những khoản tiền sau đây:
-Đối với tiền vay, bà L-ông L1 đã vay những khoản sau: tính đến tháng 06/2021, bà L-ông L1 nợ bà N số tiền vay 219.000.000 đồng; đến ngày 24/10/2021, vay tiếp số tiền 52.500.000 đồng; hai bên lập giấy biên nhận số tiền 271.500.000 đồng; ngày 26/11/2021, bà L-ông L1 vay thêm 55.000.000 đồng; ngày 13/08/2022, vay 5.700.000 đồng (vay khi chốt nợ hụi vào tháng 08/2022, khi đó hai bên chốt nợ hụi bà L-ông L1 còn thiếu là 145.000.000; bà L-ông L1 hỏi vay thêm số tiền 5.700.000 đồng nên hai bên có lập biên nhận, cộng tiền nợ hụi 145.000.000 đồng + 5.700.000 đồng = 150.700.000 đồng); cùng trong ngày 13/08/2022, hai bên kết toán tất cả khoản nợ vay và nợ hụi chưa trả, là 271.500.000 + 55.000.000 + 145.000.000 + 5.700.000 = 477.200.000; bà L ký xác nhận về việc tổng kết nợ này; tổng số tiền vay là 332.200.000 đồng; bà L-ông L1 không trả tiền lãi hàng tháng như đã thỏa thuận.
-Đối với các khoản nợ hụi, bà L-ông L1 tham gia nhiều dây hụi, gồm có:
Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/7/2020 (dương lịch) hụi mãn ngày 15/7/2022, gồm 25 phần, bà L-ông L1 tham gia 01 phần và hốt hụi kỳ thứ 4 (ngày 13/10/2020) với số tiền 36.500.000 đồng. Sau khi hốt hụi, đóng hụi chết đến tháng 02/2022 thì ngưng đóng hụi chết 06 kỳ là 12.000.000 đồng;
Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/10/2020 (dương lịch), hụi mãn ngày 25/10/2022, gồm 25 phần, bà L-ông L1 tham gia 02 phần, hốt ở kỳ thứ 5 (ngày 23/02/2021) với số tiền 37.000.000 đồng và hốt ở kỳ hụi thứ 6 (ngày 23/3/2021) với số tiền 37.500.000 đồng. Sau khi hốt hụi, đóng hụi chết đến tháng 02/2022 thì ngưng không đóng hụi chết 09 kỳ là 2.000.000 đồng x 2 phần x 9 kỳ = 36.000.000 đồng;
Dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/12/2020 (dương lịch), hụi mãn ngày 15/3/2023, gồm 28 phần, bà L-ông L1 tham gia 01 phần, hốt ở kỳ hụi thứ 2 (ngày 13/01/2021) với số tiền 92.200.000 đồng. Sau khi hốt hụi, đến tháng 02/2022 thì ngưng không đóng hụi chết cho đến nay, do đó nếu tính đến ngày mãn hụi thì bà L-ông L1 còn nợ 14 kỳ hụi chết là 5.000.000 đồng x 14 kỳ = 70.000.000 đồng;
Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/4/2021 (dương lịch), hụi mãn ngày 15/4/2023, gồm 25 phần, bà L-ông L1 tham gia 01
phần, hốt hụi ở tháng thứ 4 (ngày 13/7/2021) với số tiền 36.500.000 đồng. Sau khi hốt hụi, đến tháng 02/2022 thì ngưng không đóng hụi chết 15 kỳ là 2.000.000 đồng x 15 kỳ = 30.000.000 đồng;
Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/9/2021 (dương lịch), hụi mãn ngày 15/9/2023, gồm 25 phần, bà L-ông L1 tham gia 03 phần và hốt hụi ở kỳ thứ 01 (ngày 13/9/2021) với số tiền 35.000.000 đồng, hốt ở kỳ thứ 04 (ngày 13/12/2021) với số tiền 36.500.000 đồng và kỳ hụi thứ 05 (ngày 13/01/2022) với số tiền 35.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi đến tháng 02/2022 thì ngưng không đóng hụi chết 20 kỳ là 2.000.000 đồng x 20 kỳ x 03 phần = 120.000.000 đồng;
Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/01/2022 (dương lịch), hụi mãn ngày 25/01/2024, gồm 25 phần, bà L-ông L1 tham gia 02 phần, hốt ở kỳ thứ 04 (ngày 23/4/2022) với số tiền 36.500.000 đồng và kỳ hụi thứ 05 (ngày 23/5/2022) với số tiền 37.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi, bà L-ông L1 ngưng không đóng hụi chết của tháng 5/2022 là 2.000.000 đồng và 20 kỳ hụi chết từ tháng 06/2022 đến khi mãn là 2.000.000 đồng x 02 phần x 20 kỳ = 80.000.000 đồng + 2.000.000 đồng là 82.000.000 đồng.
Khi tham gia hụi, giữa bà N và bà L, ông L1 cũng như các hụi viên khác, có thỏa thuận rằng tiền cò (tiền hoa hồng) khi hụi viên nào đăng hụi, sẽ đưa cho bà N như sau: đối với hụi 5.000.000 đồng/tháng thì tiền cò là 2.500.000 đồng, hụi 2.000.000 đồng/tháng thì tiền cò 1.000.000 đồng; tổng cộng số tiền hụi, bà L-ông L1 còn nợ 350.000.000 đồng.
Những lần vay tiền và hốt hụi nói trên, ông L1 đều biết và sử dụng chung số tiền này, nhưng chỉ có một mình bà L ký tên vào giấy biên nhận.
Do đó, bà N khởi kiện, đòi bà L-ông L1 trả số tiền vay là 332.200.000 đồng (và tiền lãi tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 0.83%/tháng); trả số tiền nợ hụi là 350.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, như sau:
Bắt đầu từ tháng 06/2018, bà L vay tiền của bà N, thừa nhận có vay số tiền 55.000.000 đồng vào ngày 26/11/2021 và 52.500.000 đồng vào ngày 24/10/2021 là 107.500.000 đồng, chưa trả. Đối với số tiền chênh lệch (332.200.000 đồng - 107.500.000 đồng) = 224.700.000 đồng, đây là số tiền lãi mà bà N cộng dồn; khi vay, hai bên thỏa thuận lãi suất khoảng 07%/tháng hoặc
9%/tháng, nhưng chưa xác định được lãi suất cũng như số tiền lãi mà bà L đã trả.
Bà N buộc bà L ký giấy nhận hụi, đe dọa, gây áp lực sẽ đến trường học (nơi bà L làm việc) để đòi nợ. Mặt khác, do bà L giấu sự việc vay tiền, không cho ông L1 biết, nên đã phải đồng ý với yêu cầu của bà N. Trong thực tế, bà L không tham gia dây hụi nào với bà N. Mục đích vay tiền là để dùng vào việc tiêu xài cá nhân bà L, không liên quan đến ông L1.
Vì vậy, bà L chỉ đồng ý trả cho bà N số tiền vốn gốc là 107.500.000 đồng và số tiền lãi theo lãi suất 0,83%/tháng, tính từ ngày khởi kiện.
Ông Phạm Thanh L1 trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, như sau:
Ông L1 quen biết bà N, do trước đây ông L1 và bà N dạy học chung trường. Ông L1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N bởi vì đương sự không biết và không liên quan đến việc vay tiền và việc chơi hụi.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 10/02/2023, Toà án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã xét xử như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N đối với bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Phạm Thanh L1 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi”.
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Phạm Thanh L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thu N số tiền vay 348.559.000 đồng (ba trăm bốn mươi tám triệu, năm trăm năm mươi chín nghìn đồng) (trong đó số tiền vay gốc 332.200.000 đồng, tiền lãi 16.359.000 đồng).
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Phạm Thanh L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thu N số tiền nợ hụi 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng).
- Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N đối với số tiền lãi từ ngày vay đến ngày 12/8/2022 là 25.649.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất do chậm thi hành án, quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Tại bản án Dân sự phúc thẩm số 183/2023/DS-PT ngày 31/5/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử như sau:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Phạm Thanh L1.
Giữ nguyên bản án số 07/2023/DS-ST ngày 10 tháng 02 năm 2023 của
Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.
Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất do chậm thi hành án, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 28/08/2023, ông Phạm Thanh L1 có đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm.
Tại quyết định số 76/QĐ-VKS-DS ngày 01/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án phúc thẩm nói trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án phúc thẩm và hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án; lý do như sau:
- Những giấy biên nhận đều chỉ có bà L ký xác nhận với bà N; ông L1 không thừa nhận những khoản tiền đó. Mặt khác, bà N không chứng minh được rằng bà N vay tiền, chơi hụi....là nhằm để phục vụ nhu cầu của gia đình bà L.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Bà Trần Thu N khởi kiện, đòi vợ-chồng bà Nguyễn Thị Ngọc L-ông Phạm Thanh L1 liên đới trả số tiền nợ gốc là 332.200.000 đồng, số tiền lãi (tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 0,83%/tháng) là 16.359.000 đồng và số tiền nợ hụi là 350.000.000 đồng (không yêu cầu tính lãi).
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N nói trên.
[2]Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, chỉ có ông Phạm Thanh L1 có đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm; lý do như sau: đương sự không biết về những giao dịch vay tiền, giao dịch chơi hụi giữa bà Trần Thu N và bà Nguyễn Thị Ngọc L; không đồng ý liên đới trả nợ (đơn ghi ngày 28/08/2023 gửi Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh).
Như vậy, về thủ tục tố tụng, khoản nợ nói trên đã được chứng minh rõ ràng. Tòa án cấp Giám đốc thẩm chỉ phải xem xét về việc ông Phạm Thanh L1 có/không có trách nhiệm liên đới cùng bà Nguyễn Thị Ngọc L, trả nợ cho bà Trần Thu N.
[3]Xét về trách nhiệm liên đới trả nợ của ông Phạm Thanh L1:
Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nói về “Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng” như sau:
- Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
- Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”.
Khoản 1 Điều 30 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nói về “Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” như sau:
“1.Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”.
Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nói về “Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng” như sau:
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan”.
Đối chiếu với những điều luật nói trên, thì không có bằng chứng nào để chứng minh rằng giao dịch vay tiền, giao dịch chơi hụi mà bà Nguyễn Thị Ngọc L đã xác lập với bà Trần Thu N, là giao dịch thuộc vào một điều khoản nào đó đã viện dẫn, để từ đó Tòa án có thể xác định trách nhiệm liên đới trả nợ của ông Phạm Thanh L1. Vì vậy, trong trường hợp này, chỉ có căn cứ xác định rằng trách nhiệm trả những khoản nợ nói trên, cho bà Trần Thu N, chỉ thuộc về bà Nguyễn Thị Ngọc L.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Chấp nhận một phần kháng nghị số 76/QĐ-VKS-DS ngày 01/03/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Sửa bản án Dân sự phúc thẩm số 183/2023/DS-PT ngày 31/05/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi” giữa nguyên đơn là bà Trần Thu N; bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Phạm Thanh L1, như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N đối với bà Nguyễn Thị Ngọc L; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N đối với ông Phạm Thanh L1, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi”;
- -Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc L trả cho bà Trần Thu N số tiền vay là 348.559.000 đồng (ba trăm bốn mươi tám triệu, năm trăm năm mươi chín nghìn đồng) (số tiền gốc là 332.200.000 đồng; số tiền lãi là 16.359.000 đồng);
- -Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc L trả cho bà Trần Thu N số tiền nợ hụi là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng);
- -Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N đòi số tiền lãi từ ngày vay đến ngày 12/08/2022 là 25.649.000 đồng;
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án trở đi, nếu người phải thi hành án chưa trả hết số tiền nói trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi tính trên số tiền chậm trả, chiếu theo Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 31.942.000 đồng; trả lại cho bà Trần Thu N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.232.000 đồng theo biên lai số 0020973 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh;
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0021316 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; bà Nguyễn Thị Ngọc L đã nộp đủ án phí phúc thẩm; trả lại cho ông Phạm Thanh L1 số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N đối với bà Nguyễn Thị Ngọc L; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu N đối với ông Phạm Thanh L1, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi”;
0021317 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận việc thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, chiếu theo Điều 6; Điều 7; Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
- Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Nơi nhận:
| TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Quyết định số 155/2024/DS-GĐT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi
- Số quyết định: 155/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng nghị số 76/QĐ-VKS-DS ngày 01/03/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa bản án Dân sự phúc thẩm số 183/2023/DS-PT ngày 31/05/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh...
