Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 154/2024/DS-GĐT

Ngày: 11/06/2024

V/v: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;

Các Thẩm phán:

ông Bùi Đức Xuân;

bà Trần Thị Thu Thủy.

Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Quân, Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Đăng Ry, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Phan Thiện N Y, sinh năm 1984;

      Địa chỉ: số 10 đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1952;

      Địa chỉ: 30/19B Mậu Thân, phường An Nghiệp, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 03/08/2015 và ngày 01/09/2016):

    Ông Lâm Thanh T, sinh năm 1969;

    Địa chỉ: 293B/9 Hoàng Quốc Việt, khu vực 4, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

  2. Bị đơn:
    1. Ông Lương Thái H, sinh năm 1977;

      Địa chỉ: 163M/20 Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

      Người đại diện theo ủy quyền của ông H (văn bản ủy quyền ngày 24/02/2022):

      Ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1957;

      Địa chỉ: 99/4A Cách Mạng Tháng 8, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    2. Bà Nguyễn Như H1, sinh năm 1977;
    3. Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1971;

      Cùng địa chỉ: số C (số cũ: 72) đường B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1977;

      Địa chỉ: 163M/20 Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

      Người đại diện của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 (văn bản ủy quyền ngày 24/02/2022):

      Ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1957.

      Địa chỉ: 99/4A Cách Mạng Tháng 8, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Phan Thiện N trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Vào năm 2002, bà Phan Thiện N (bà Y) nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn S (ông S) thửa đất số 426, tờ bản đồ số 13, diện tích là 300,04m² tọa lạc tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số 02734 ngày 01/4/2002; ông Lương Thái H có thửa đất số 580, diện tích là 73,75m², giáp ranh đất của bà Y.

Vào năm 2012 khi xây dựng nhà, ông H đã lấn chiếm 33m² đất của bà Y. Khi biết sự việc, bà Y liên hệ với Phòng Tài nguyên và Môi trường quận N để đo đạc cập nhật bản đồ vào ngày 03/02/2015 và yêu cầu ông H tháo dỡ phần xây dựng chiếm đất, nhưng ông H không thực hiện.

Vào ngày 26/03/2015, bà Y khiếu nại đến Ủy ban nhân dân (UBND) phường A; UBND hòa giải ngày 27/04/2015, xác định rằng ông H lấn chiếm đất nhưng ông H vẫn không chịu trả đất.

Vì vậy, bà Y khởi kiện, đòi ông H tháo dỡ nhà, trả lại diện tích đất lấn chiếm (vào khoảng) 33m².

Đến ngày 26/08/2016, bà Ý khởi kiện bổ sung, đòi ông Nguyễn Minh C (ông C) tháo dỡ mái che, trả lại phần đất lấn chiếm (vào khoảng) 9,7m².

Ông Nguyễn Văn S trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Ông S là chủ sử dụng thửa đất số 198, tờ bản đồ số 3, diện tích là 1.000m² theo giấy CNQSDĐ số 00293 ngày 06/04/1994; phần đất này liền kề với đất ông C, bà Nguyễn Như H1 (bà H1).

Vào năm 2012, ông C, bà H1 cho bà Tạ Ngọc G (bà G) thuê đất để buôn bán vật liệu xây dựng. Trong quá trình thuê đất, bà G tự ý lấn chiếm sang đất của ông S để làm mái che và làm công trình phụ. Vào ngày 01/6/2015, ông S khiếu nại đến UBND phường A nhưng không giải quyết được.

Vì vậy, ông S khởi kiện, đòi ông C, bà H1 tháo dỡ mái che, trả lại diện tích đất lấn chiếm là 48m².

Đến ngày 26/09/2015, ông S khởi kiện bổ sung, đòi ông C, bà H1 trả lại phần đất lấn chiếm (vào khoảng) 16m².

Bị đơn là ông Lương Thái H (ông H) và bà Nguyễn Thị Ngọc H2 (bà Ngọc H2) trình bày ý kiến như sau:

Vào ngày 03/08/2012 ông H2 mua căn nhà và đất thổ cư, diện tích là 73,75m², thửa đất số 580, tờ bản đồ số 13 theo giấy CNQSDĐ số CH06844 ngày 10/10/2012 và mua phần đất liền kề phía sau, của ông Nguyễn Viết D. Sau khi mua, ông H2 sửa chữa nhà và ở cho đến ngày nay.

Đến ngày 27/04/2015, UBND phường A mời ông H2 đến hòa giải về việc tranh chấp đất với bà Y. Ông H2 yêu cầu xác định ranh đất, nhưng bà Y không xác định được ranh đất trong thực tế.

Ông H2 yều cầu Tòa án trưng cầu đo đạc phần đất của bà Y và diện tích đất chung của ông S theo giấy CNQSDĐ trước khi chuyển nhượng cho bà Y, để bảo đảm đúng diện tích đất của các bên tranh chấp.

Bị đơn là ông Nguyễn Minh C (ông C) và bà Nguyễn Như H1 (bà H1) trình bày ý kiến như sau:

Đương sự không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Y, ông S.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 134/2021/DS-ST ngày 19/11/2021, Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử như sau:

-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thiện N Y và của ông Nguyễn Văn S;

Buộc ông Lương Thái H phải tháo dỡ nhà, trả lại cho bà Y 38,2m² đất lấn chiếm;

Buộc ông Nguyễn Minh C tháo dỡ mái che, trả lại cho bà Y 9,7m² đất lấn chiếm;

Buộc ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Như H1 tháo dỡ mái che, trả lại cho ông S 44,7m² đất lấn chiếm (phần ông C lấn chiếm 19,8m², phần bà H1 lấn chiếm 24,9m²) - theo Bản trích đo địa chính số 68/TTKTTNMT ngày 31/5/2021 của Trung tâm K – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng mà đương sự phải chịu.

Vào ngày 01/12/2021, bị đơn ông Lương Thái H, ông Nguyễn Minh C và bà Nguyễn Như H1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại bản án Dân sự phúc thẩm số 240/2022/DS-PT ngày 23/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử như sau:

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lương Thái H, ông Nguyễn Minh C và bà Nguyễn Như H1;

Sửa bản án sơ thẩm như sau:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thiện N Y đòi ông Lương Thái H tháo dỡ nhà, trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 33m² và đòi ông Nguyễn Minh C tháo dỡ mái che, trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 9,7m²;
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S đòi ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Như H1 trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 16m².

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền và nghĩa vụ thi hành án.

Vào ngày 01/11/2022, người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn, là ông Lâm Thanh T, có đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm.

Vào ngày 15/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ ra văn bản số 26/TB-VKS-DS, đề nghị kháng nghị bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại quyết định số 74/QĐ-VKS-DS ngày 06/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án phúc thẩm nói trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Lý do như sau:

-Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì có căn cứ xác định rằng phía ông H, ông C, bà H1 đã lấn chiếm đất của bà Ý, ông S. Do đó, việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm (buộc họ phải trả lại đất đã lấn chiếm) là đúng pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đo đạc những phần đất tranh chấp và những phần đất có liên quan, tổng cộng là 03 lần.

Đối chiếu bản trích đo địa chính số 68/TTKTTNMT ngày 31/05/2021 do Trung tâm K-Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C thiết lập vào ngày 31/05/2021 (kết quả đo đạc lần sau cùng) và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thì có căn cứ để kết luận như sau:

-Diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà Y, bị ông H và ông C lấn chiếm, tổng cộng là 47,9m² (trong đó, ông H lấn chiếm 38,2m²; ông C lấn chiếm 9,7m²);

-Diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông S, bị ông C và bà H1 lấn chiếm, tổng cộng là 44,7m² (trong đó, ông C lấn chiếm 19,8m²; bà H1 lấn chiếm 24,9m²).

[2]Phía ông H, ông C và bà H1 cho rằng phần đất tranh chấp trong vụ án này, mặc dù không thuộc vào giấy CNQSDĐ của họ, mà thuộc quyền quản lý của Nhà nước (vì cho rằng phần đất tranh chấp là con mương dẫn nước thuộc đất công cộng) nhưng không tài liệu, chứng cứ để chứng minh như vậy. Theo bản đồ địa chính tổng thể do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, thành phố Cần Thơ thiết lập và các tài liệu cấp giấy CNQSDĐ cho bà Y, ông S, những tài liện này thể hiện rằng không có mương nước công cộng tại những vị trí giáp ranh giữa những phần đất hiện hữu của những đương sự liên quan. Mặt khác, kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án cho thấy rằng tất cả những diện tích đất tranh chấp (hiện nay do ông H, ông C, bà H1 đang sử dụng) đều thuộc vào giấy CNQSDĐ mà bà Ý, ông S đã được cấp hợp pháp.

[3]Với những tài liệu, chứng cứ và tình tiết của vụ án đã phân tích và chứng minh nói trên, thì có căn cứ kết luận rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, buộc ông H, ông C, bà H1 phải tháo dỡ, di chuyển tài sản đi nơi khác, trả lại diện tích đất lấn chiếm, cho bà Ý, ông S, là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận kháng nghị số 74/QĐ-VKS-DS ngày 06/03/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Hủy bản án Dân sự phúc thẩm số 240/2022/DS-PT ngày 23/09/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ; giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 134/2021/DS-ST ngày 19/11/2021 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử vụ án “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Phan Thiện N Y, ông Nguyễn Văn S; bị đơn là ông Lương Thái H, bà Nguyễn Như H1, ông Nguyễn Minh C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc H2.

  2. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • -Chánh án TANDCC tại TP. HCM (để báo cáo);
  • -Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC;
  • -VKSNDCC tại TP. HCM;
  • -TAND TP. Cần Thơ;
  • -TAND quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ;
  • -Chi cục THADS quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu P.LTHS, P.GĐKT2, HS, THS (AQ).

TM. ỦY BAN THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 154/2024/DS-GĐT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

  • Số quyết định: 154/2024/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị số 74/QĐ-VKS-DS ngày 06/03/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy bản án Dân sự phúc thẩm số 240/2022/DS-PT ngày 23/09/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ; giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 134/2021/DS-ST ngày 19/11/2021 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger