TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Quyết định giám đốc thẩm Số: 151/2024/DS-GĐT Ngày: 10/6/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Thiện
Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Xuân
bà Huỳnh Thanh Duyên
Thư ký phiên tòa: ông Lê Minh Luông, Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Sơn, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử việc dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Trương Thị Thúy H, sinh năm 1971;
- Bị đơn:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: số C L, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1. Ông Trần Việt H1, sinh năm 1963;
2.2. Bà Ngô Thị Thúy O, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: 301A V, ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Ông Phạm Ngọc O1, sinh năm 1971;
Địa chỉ: 4 đường P, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968;
Địa chỉ: số C L, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Thúy H trình bày:
Bà Trương Thị Thúy H và chồng là ông Nguyễn Văn T nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 732m² thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 847524 ngày 28/9/2009 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp đứng tên ông Nguyễn Quốc C. Ngày 11/5/2018, bà Trương Thị Thúy H được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cập nhật sang tên chuyển nhượng đối với phần đất trên.
Sau khi được công nhận quyền sử dụng đất, bà H và ông T tách thửa đất trên thành 05 thửa đất, gồm: thửa đất số 1145 (diện tích 142,3m²), thửa đất số 1146 (diện tích 143,6m²), thửa đất số 1175 (diện tích 144,6m²), thửa đất số 1183 (diện tích 128,4m²) và thửa đất số 1184 (diện tích 173,3m²), tổng diện tích là 732m². Sau khi tách thửa xong, bà thực hiện cắm ranh giới thì phát hiện ông Trần Việt H1 và bà Ngô Thị Thúy O là người có phần đất giáp ranh lấn chiếm phần đất diện tích khoảng 28,8m², đổ đất, xây tường, rào tôn trên phần đất của bà H và ông T.
Khi bà H và ông T nhận chuyển nhượng đất thì hiện trạng là đất trống, giáp ranh phần đất có một con đường đất. Qua tìm hiểu, bà H được biết, ông H1 và bà O là người mua phần đất con đường đi này. Khi ông H1 và bà O tiến hành xây dựng nhà trên phần đất này thì bị chính quyền xử lý và ông H1, bà O cũng xây lấn chiếm sang đất của bà H và ông T. Sau đó, bà H và ông T nhiều lần đề nghị ông H1, bà O tháo dỡ tường rào đã xây, trả lại phần đất lấn chiếm nhưng ông H1 và bà O không đồng ý nên phát sinh tranh chấp, đã được Ủy ban nhân dân xã B tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Nay, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H1 và bà O trả lại cho bà phần đất lấn chiếm diện tích 28,8m² thuộc một phần thửa đất số 1183 và thửa đất số 1184, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã B, huyện C.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H yêu cầu ông H1 và bà O trả lại phần đất sau đo đạc thực tế có diện tích 13,5m² vị trí Khu 1 và 8,9m² thuộc Khu 2 theo bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 13/7/2020 của Công ty TNHH MTV T2. Bà H tự nguyện hoàn trả giá trị công trình xây dựng trên đất do ông H1 và bà O xây dựng lấn chiếm theo giá trị tại biên bản định giá tài sản ngày 28/4/2021.
Ông T (chồng bà H) thống nhất theo nội dung trình bày của bà H
Bị đơn, ông Trần Việt H1 và bà Ngô Thị Thúy O có người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Ngọc O1 trình bày:
Phần đất bà H tranh chấp là của ông H1 và bà O mua của bà Bùi Ngọc Đ. Phần đất có diện tích chiều ngang 1,7m, chiều dài 31m thuộc thửa số 44, tờ bản đồ số 19, tọa lạc xã B, huyện C và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/4/2007, vào sổ cấp GCNQSDĐ số H00193/03.
Khi mua thì phần đất này có tường rào sẵn dùng làm đường đi công cộng và có nguồn gốc là của ông Lưu Văn C1 hiến đất làm đường đi cho gia đình ông Lê Văn B. Sau đó ông B không sử dụng và bán lại cho bà Bùi Ngọc Đ.
Nay bà H yêu cầu ông H1 và bà O trả lại phần đất diện tích 13,5m² thuộc Khu 1 và 8,9m² vị trí Khu 2 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 13/7/2020 của Công ty TNHH MTV T2 bản đồ Hoàng T1, ông H1 và bà O không đồng ý vì phần đất tranh chấp này do ông bà mua của bà Đ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 289/2021/DS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Thúy H.
Buộc ông Trần Việt H1 và bà Ngô Thị Thúy O trả lại phần đất sau đo đạc thực tế có diện tích 13,5m² thuộc Khu 1 và 8,9m² thuộc Khu 2 (Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 13/7/2020 của Công ty TNHH MTV T2 bản đồ Hoàng Thịnh) thuộc một phần thửa đất số 1183 và 1184, tờ bản đồ số 19 tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Trương Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn T.
Bà Trương Thị Thúy H có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Việt H1 và bà Ngô Thị Thúy O số tiền là 12.433.360 đồng, thanh toán ngay một lần khi án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông Trần Việt H1 và bà Ngô Thị Thúy O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trương Thị Thúy H chậm trả tiền thì bà Trương Thị Thúy H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/12/2021, bị đơn ông Trần Việt H1 và bà Ngô Thị Thúy O có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 259/2022/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Việt H1 và bà Ngô Thị Thúy O. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 289/2021/DS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngoài ra, quyết định phúc thẩm còn quyết định về án phí phúc thẩm.
Ngày 19/12/2022, bà Trương Thị Thúy H có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 70/QĐ-VKS-DS ngày 05/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 259/2022/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm, hủy toàn bộ bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn bà H khởi kiện yêu cầu ông H1 và bà O trả lại phần đất diện tích 28,8m², qua đo đạc thực tế là 13,5m² thuộc Khu 1 và 8,9m² thuộc Khu 2 theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 13/7/2020 của Công ty TNHH MTV T2 bản đồ H, thuộc một phần thửa đất số 1183 và 1184, tờ bản đồ số 19, tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 442742 và CO 442743 ngày 03/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp đứng tên bà Trương Thị Thúy H. Ông H1 và bà O cho rằng diện tích đất trên do ông bà mua của bà Bùi Ngọc Đ nên không đồng ý trả đất theo yêu cầu của bà H.
[2] Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy:
Nguồn gốc thửa đất số 1183 và 1184, tờ bản đồ số 19 được tách từ phần đất có diện tích 732m² thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 19 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lưu Văn C1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 806165 ngày 06/4/2007. Ông C1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc C, ông C đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 847524 ngày 28/9/2009 theo đúng diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông C1. Sau đó, ông C chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho bà H và ông T. Ngày 11/5/2018, bà H được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cập nhật sang tên toàn bộ diện tích đất trên. Sau khi được cập nhật sang tên, bà H đã làm thủ tục tách thửa đất số 44 thành 05 thửa đất gồm: số 1145 (diện tích 142,3m²), thửa đất số 1146 (diện tích 143,6m²), thửa đất số 1175 (diện tích 144,6m²), thửa đất số 1183 (diện tích 128,4m²) và thửa đất số 1184 (diện tích 173,3m²), tổng diện tích là 732m² do bà H đứng tên quyền sử dụng đất.
[3] Tại Công văn số 278/CNCC ngày 15/01/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác định: “Phần đất diện tích 28,8m² (sau đo đạc thực tế diện tích là 13,5m² thuộc Khu 1 và 8,9m² thuộc khu 2 theo bản vẽ sợ đồ nhà đất ngày 13/7/2020 của công ty TNHH MTV T2 bản đồ H) thuộc một phần thửa 1183, một phần thửa 1184, tờ bản đồ số 19, tọa lạc xã B, huyện C hiện bà Trương Thị Thúy H, sinh năm 1971, ngụ tại 3 L, Phường F, Quận G đứng tên chủ sử dụng.”
Ngoài ra, theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 10/7/2020 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi cũng thể hiện: “Hiện trạng đất tranh chấp: nền bê tông và tường rào lên và lưới B40.... Toàn bộ phần đất do ông H1, bà O quản lý, sử dụng”. Phù hợp với bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty T2 lập ngày 18/8/2020 thể hiện khu 1 (13,5m²), khu 2 (8,9m²), nền bê tông 8,9m. Ngoài ra xác định rõ nhà cấp 4 tường cột BTCT, gác mái tole.”. Tuy nhiên, theo Công văn số 524/UBND-ĐC ngày 31/3/2021 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C thẻ hiện: “Phần đất tranh chấp diện tích 28,8m² có khu 1 diện tích 13,5m² và khu 2 diện tích 8,9m² thuộc một phần thửa 1183,1184 đã được cấp giấy chứng nhận cho bà Trương Thị Thúy H. Tại thời điểm xác minh để cung cấp thông tin cho Tòa án thì khu đất có hiện trạng là vách tole, mái tole, cửa tole đã khóa và không có người sử dụng. Do đó, UBND xã không xác minh được ai là người quản lý sử dụng để cung cấp thông tin cho Tòa án.
[4] Như vậy, theo các chứng cứ trên thì trước khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất của ông C thì phần đất đang tranh chấp đã tồn tại nền móng, hàng rào lưới B40 do bị đơn đổ đất, xây dựng như hiện trạng kết quả xem xét, thẩm định tại biên bản ngày 10/7/2020 của Tòa án cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện các bên có tiến hành đo đạc áp ranh giới và lập văn bản giao nhận đất để có căn cứ xác định bà H biết hay không biết đất tranh chấp là do bà Đ sử dụng nhưng chuyển nhượng cho bị đơn.
[5] Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cung cấp các tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/01/2018 giữa ông Lưu Văn C1 và bà Bùi Phương H2; giấy thỏa thuận phần đất còn lại giữa ông Lê Văn B và ông Lưu Văn C1 không ghi ngày, tháng năm; giấy hiến đất làm đường đi ngày 04/3/2008 của ông Lưu Văn C1 có xác nhận của trưởng ấp 4B ngày 05/3/2008 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 27/3/2018 giữa bà Bùi Ngọc Đ và bị đơn thể hiện: giáp với ranh đất của phần đất thuộc thửa số 44, tờ bản đồ 19, có 01 đường bờ dùng làm lối đi của gia đình ông Lê Văn B và ông B đã thỏa thuận nhượng lại cho ông Lưu Văn C1. Sau đó, ông Lưu Văn C1 hiến làm đường đi công cộng cho các hộ có nhà đất nằm phía trong. Sau này khi các hộ trên không sử dụng thì ông Lê Văn B chuyển nhượng cho bà Bùi Ngọc Đ và bà Đ chuyển nhượng cho bị đơn.
[6] Tuy nhiên, tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 27/3/2018, bà Đ và bị đơn tự ghi nhận phần đất đường bờ dùng làm lối đi này thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 19 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/4/2007, vào sổ cấp GCNQSDĐ số H00193/03 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp. Các bên không tiến hành đo đạc, không có biên bản giao nhận đất để xác định vị trí hiện trạng đất thỏa thuận chuyển nhượng mà chỉ giao nhận trên thực tế. Do đó, cần phải đưa ông C1, ông B và bà Đ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để đối chất làm rõ phần đất đường bờ trước đây sử dụng làm đường đi công cộng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C1 đối với phần đất ông C1 đã cam kết hiến đất, giữa ông B và ông C1 có chuyển nhượng đối với phần diện tích đất này chưa mà ông B lại chuyển nhượng cho bà Đ như nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm là có căn cứ.
[7] Trong khi chưa đối chất làm rõ các mâu thuẫn trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn trả đất cho nguyên đơn là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và không giải quyết triệt để vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 342; Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 70/QĐ-VKS-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm số 259/2022/DS-PT ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
Nơi nhận:
| TM.ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thiện |
Quyết định số 151/2024/DS-GĐT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 151/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 70/QĐ-VKS-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2/. Giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm số 259/2022/DS-PT ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. 3/.Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
