Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-4-2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung giữa

chị Trần Thị Nhung và anh Trần

Hữu Hưng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đoàn Hồng Hải
  2. Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thu Hằng – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Giang – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 513/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1987; cư trú tại: Số I đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Anh Trần Hữu H, sinh năm 1981; cư trú tại: Số I đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-11-2023, bản tự khai ngày 22-12-2023, trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Trần Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Hữu H tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 10-01-2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H vô cớ ghen tuông, nghi ngờ chị ngoại tình. Anh H thường xuyên chửi bới, đánh đập, dùng dao dọa giết chị khiến tinh thần của chị và các con hoảng loạn. Bản thân anh H không có công việc ổn định, không quan tâm đến gia đình. Mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến cuối tháng 3-2024 anh H đe doạ đánh chị, nên chị cùng với hai con chung đã chuyển đi nơi khác sinh sống và hiện không còn sinh sống ở địa chỉ số I đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Hữu H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Trần Hữu Trường H1, sinh ngày 08-7-2012 (giới tính: Nam) và Trần Bảo A, sinh ngày 01-02-2020 (giới tính: Nữ). Hiện hai con chung đang sống với chị. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về điều kiện nuôi con: Hiện tại, chị đang làm việc tại Công ty cổ phần S. Thu nhập khoảng 30.000.000 đồng/tháng (bao gồm lương và thu nhập khác). Việc chăm sóc các con, đưa đón các con đi học, liên hệ với nhà trường, đóng học phí cho con đều do chị đảm nhận. Còn anh H không chăm sóc các con, không phụ giúp chị về kinh tế để nuôi con, lại thường xuyên đánh đập vợ làm ảnh hưởng đến tinh thần của các con.

Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

  1. Tại văn bản ngày 05-01-2024, Biên bản lấy lời khai ngày 29-01-2024, trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa bị đơn là anh Trần Hữu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận về điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như chị N trình bày là đúng. Quá trình chung sống của vợ chồng anh đôi khi có bất hòa do cách sống của mỗi người khác nhau. Theo anh, những mâu thuẫn đó chưa trầm trọng đến mức vợ chồng phải ly hôn. Anh vẫn yêu thương vợ, con nên không đồng ý ly hôn. Anh mong muốn vợ chồng cùng khắc phục mâu thuẫn, sửa đổi bản thân để các con có gia đình trọn vẹn.

Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Trần Hữu Trường H1, sinh ngày 08-7-2012 (giới tính: Nam) và Trần Bảo A, sinh ngày 01-02-2020 (giới tính: Nữ). Hiện hai con chung đang sống với chị N. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi mỗi con chung là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động.

Về điều kiện nuôi con: Hiện nay anh đang làm việc tại Công ty cổ phần T - Chi nhánh N1 ký hợp đồng 36 tháng. Thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng. Việc chăm sóc các con hàng ngày do cả hai vợ chồng anh cùng chăm sóc. Trước khi chị N làm đơn ly hôn thì bố mẹ anh đưa đón các cháu để vợ chồng anh đi làm.

Về tài sản và công nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.

  1. Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 15-12-2023 của Toà án tại địa phương nơi cư trú của chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H xác nhận: Chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 10-01-2012 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N. Anh H và chị N có 02 con chung là Trần Hữu Trường H1, sinh ngày 08-7-2012 (giới tính: Nam) và Trần Bảo A, sinh ngày 01-02-2020 (giới tính: Nữ). Hiện hai cháu đang sống cùng chị N và anh H tại số I đường Đ, phường C, thành phố N. Quá trình chung sống của chị N và anh H có xảy ra đánh chửi nhau.
  1. Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 05-01-2024 của cháu Trần Hữu Trường H1 trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu đề nghị Tòa án giao cháu và em cháu là Trần Bảo A cho mẹ cháu nuôi dưỡng. Vì bố không quan tâm đến hai anh em cháu, thường xuyên đánh đập mẹ cháu.
  1. Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 12-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, Trường trung học cơ sở T1, thành phố N cung cấp: Học sinh Trần Hữu Trường H1 hiện đang học lớp 6A4 trường trung học cơ sở T1, thành phố N. Việc đưa đón con đi học, họp phụ huynh, đóng học phí, trao đổi thông tin giữa nhà trường và gia đình đều thông qua chị Trần Thị N. Từ khi giáo viên chủ nhiệm tiếp nhận lớp đến nay chưa từng làm việc với bố của học sinh Trần Hữu Trường H1.
  1. Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 12-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, Trường Mầm non S1, thành phố N cung cấp: Bé Trần Bảo A, sinh ngày 01-02-2020 hiện đang học lớp 3A1 Trường Mầm non S1. Mẹ của bé Bảo A – chị Trần Thị N là người thường xuyên đưa đón con đi học. Các khoản học phí và đóng góp của con chủ yếu do chị N đóng. Mọi việc trao đổi thông tin giữa Nhà trường và gia đỉnh chủ yếu thông qua chị N.
  1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà:

Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị N và bị đơn là anh Trần Hữu H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự/

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị N. Về con chung, căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao hai cháu Trần Hữu Trường H1Trần Bảo A cho chị Trần Thị N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị N về việc không yêu cầu anh Trần Hữu H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ: Chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Trần Thị N phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
  1. Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Trần Hữu H. Xét thấy, tranh chấp giữa chị N và anh H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Trần Hữu H đăng ký thường trú và cư trú tại: Số I đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
  1. [2] Về nội dung vụ án.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 10-01-2012 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống của chị N và anh H có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau, thường xuyên xảy ra va chạm, đánh chửi nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải cho vợ chồng anh chị nhưng chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên kiên quyết giữ yêu cầu ly hôn, anh H không đồng ý ly hôn vì không muốn các con phải chịu cảnh gia đình ly tán. Tuy nhiên, bản thân anh H cũng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn của vợ chồng.

Tại phiên tòa chị Trần Thị N giữ nguyên quan điểm đề nghị giải quyết ly hôn với anh Trần Hữu H. Anh H không đồng ý ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H.

  1. Về nuôi con chung: Chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H có 02 con chung là Trần Hữu Trường H1, sinh ngày 08-7-2012 (giới tính: Nam) và Trần Bảo A, sinh ngày 01-02-2020 (giới tính: Nữ). Hiện tại hai con chung đang sống với chị N. Chị N và anh H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.

Về nơi sinh sống: Điều kiện về nơi sinh sống cho các con của chị N và anh H là như nhau. Anh chị và các con đang sống tại nhà đất chung của vợ chồng anh chị tại số I đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Về điều kiện kinh tế: Chị N và anh H đều có công việc và thu nhập. Tuy nhiên, anh H mới làm việc tại Công ty cổ phần T – chi nhánh N1, hợp đồng làm việc 36 tháng từ ngày 01-01-2024 với mức lương khoảng 8.000.000 đồng/tháng. Trong khi đó, chị N ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn và làm việc ổn định tại Công ty cổ phần S từ tháng 3-2021 đến nay với mức lương những tháng gần đây khoảng 30.000.000 đồng/tháng. Do vậy, chị N có công việc ổn định và thu nhập cao hơn anh H, đảm bảo kinh tế để nuôi dưỡng các con.

Về khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con: Chị N là phụ nữ nên việc chăm sóc các con sẽ phù hợp hơn, chu đáo hơn. Hơn nữa, cháu Trần Bảo A là con gái và còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc của người mẹ. Cháu Trần Hữu Trường H1 có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Mọi việc liên quan đến học tập của con chị N cũng đã và đang đảm nhận.

Từ những lập luận ở trên và căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị N về việc được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị N không yêu cầu anh Trần Hữu H cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Trần Thị N phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H.
  2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Trần Hữu Trường H1, sinh ngày 08-7-2012 (giới tính: Nam) và Trần Bảo A, sinh ngày 01-02-2020 (giới tính: Nữ) cho chị Trần Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Hữu H không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Trần Thị N.

Anh Trần Hữu H vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn). Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) chị N đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001843 ngày 11 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
  2. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Trần Thị N và anh Trần Hữu H có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND TP. Nam Định

- Chi cục THADS TP. Nam Định;

- UBND P. Cửa Bắc, TP. Nam Định (ĐK

ngày 10-01-2012);

- Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Bang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số quyết định: 150/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị N và Trần Hữu H (Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger