Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số:15/2024/DS-ST

Ngày: 12 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn;

- Ông Bùi Trung Thành.

- Thư ký phiên toà: ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 59/2024/QÐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần G.

Địa chỉ: Tòa nhà V P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hồng Q – Chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá H – Chức vụ: Chuyên viên pháp chế.

Địa chỉ: Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Ông Cao Văn Đ - Sinh năm 1988

Địa chỉ: Làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Bá H, vắng mặt bị đơn ông Cao Văn Đ. Ông Cao Văn Đ vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện cho nguyên đơn trình bày: Ngày 09/01/2023, sau khi tìm hiểu, ông Cao Văn Đ đã đăng ký sử dụng dịch vụ bưu chính, chuyển phát của Công ty Cổ phần G (Sau đây gọi tắt là “Công ty G1”) trên ứng dụng Giaohangtietkiem.vn - với thông tin đăng ký như sau:

Tên shop: S21999975 – S, CCCD đăng ký số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 12/7/2021. Địa chỉ đăng ký: 156, A C, Phường Y, Quận H, Hà Nội. SĐT: 0965.076.xxx. Gmail: caodong3688@gmail.com Tài khoản ngân hàng số: 19039059603013 mang tên Cao Văn Đ mở tại Ngân hàng TMCP K (T). Quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ giữa hai bên được thực hiện bình thường.

Công ty G1 đã thực hiện theo đúng chính sách và quy định đã thỏa thuận được công bố trước với khách hàng được niêm yết trên website của Công ty G1. Tuy nhiên, khi Công ty G1 thực hiện việc hoàn thành vận chuyển các đơn hàng được ông Đ trực tiếp tạo trên tài khoản shop S21999975 nhưng ông Đ - chủ Shop không tiến hành thanh toán các chi phí dịch vụ cho Công ty G1.

Tổng số tiền cước phí dịch vụ ông Cao Văn Đ - Chủ Shop S21999975 nợ Công ty G1 là: 22.437.721 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi mốt đồng), chi tiết theo Biên bản đối soát đính kèm Đơn khởi kiện.

Khi xác định được tổng số tiền cước phí dịch vụ ông Đ nợ, Công ty G1 đã nhiều lần gọi điện và gửi thông báo đến ông Đ, yêu cầu ông Đ thanh toán tiền cước phí dịch vụ nhưng ông Đ không thực hiện.

Nhận thấy, quyền và lợi ích của Công ty G1 bị xâm phạm, nên Công ty G1 thực hiện nộp Đơn khởi kiện ông Cao Văn Đ tại Tòa án Nhân dân Huyện Ngọc Lặc, để yêu cầu ông Cao Văn Đ phải thanh toán cho Công ty GHTK các khoản tiền sau:

- Buộc ông Cao Văn Đ thanh toán cho Công ty G1 số tiền phí dịch vụ vận chuyển mà Công ty G1 đã thực hiện là: 22.437.721 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi mốt đồng).

- Việc chậm trả số tiền nêu trên sẽ được tính lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại Điều 357, Bộ luật Dân sự 2015, tương ứng với thời gian chậm trả từ ngày 11/04/2023 đến ngày Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Lặc đưa vụ án ra xét xử, tạm tính đến ngày 12/9/2024 là 519 ngày: 3.190.460 đồng (Ba triệu, một trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi đồng).

Như vậy, tổng số tiền ông Cao Văn Đ phải thanh toán cho Công ty G1 tạm tính đến ngày 12/9/2024 là: 22.437.721 đồng + 3.190.460 đồng = 25.628.181 đồng (Hai mươi lăm triệu, sáu trăm hai mươi tám nghìn, một trăm tám mươi mốt đồng).

Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/02/2024 ông Cao Văn Đ là bị đơn trình bày: Ông không biết gì về dịch vụ chuyển phát nhanh, ông cho rằng có người đã sử dụng thông tin cá nhân của ông để mở tài khoản và dịch vụ chuyển phát nhanh, hiện tại ông vẫn ở nhà làm nghề tự do mà không hề biết có việc mở tài khoản này, ông cũng không biết có người đã sử dụng thông tin cá nhân của ông để lập tài khoản và sử dụng dịch vụ trên. Do đó việc Công ty cổ phần G khởi kiện yêu cầu ông trả nợ là ông không biết gì. Về chữ ký và chữ viết trên thông báo nghĩa vụ trả nợ lần 2 là do ông nhận, ký và số điện thoại ông ghi trên thông báo là đúng.

* Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa đại diện công ty giao hàng tiết kiệm nhanh vẫn giữ nguyên yêu cầu và lời trình bày của mình mà không sửa đổi bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án, đại diện VKS đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần G. Buộc ông Cao Văn Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ông Cao Văn Đ, có địa chỉ tại xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa trả số tiền nợ do việc sử dụng dịch vụ của Công ty cổ phần G nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “ Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng ông Cao Văn Đ không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Cao Văn Đ theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

Ông Cao Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng ông không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ ông Cao Văn Đ lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng ông Đ vân không có mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt ông Cao Văn Đ.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu buộc ông Cao Văn Đ thanh toán cho Công ty cổ phần G khoản tiền phí dịch vụ vận chuyển

là: 22.437.721 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi mốt đồng). Vấn đề này thấy rằng: Ngày 09/01/2023 Ông Cao Văn Đ đã đăng ký sử dụng dịch vụ bưu chính, chuyển phát của Công ty Cổ phần G trên ứng dụng Giaohangtietkiem.vn - N & R với thông tin đăng ký: Tên shop: S21999975 – Shop thời trang online, CCCD đăng ký số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 12/7/2021. Địa chỉ đăng ký: 156, A C, Phường Y, Quận H, Hà Nội kèm theo là số điện thoại và tài khoản ngân hàng. Theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng được công bố trước với khách hàng được niêm yết trên website của Công ty G1. Tuy nhiên, khi Công ty G1 thực hiện việc hoàn thành vận chuyển các đơn hàng được ông Đ trực tiếp tạo trên tài khoản shop S21999975 nhưng ông Đ - chủ Shop không tiến hành thanh toán các chi phí dịch vụ cho Công ty G1. Tổng số tiền cước phí dịch vụ ông Cao Văn Đ - Chủ Shop S21999975 nợ Công ty G1 là: 22.437.721 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi mốt đồng), chi tiết số tiền ông Đ chưa thanh toán được thể hiện cụ thể tại biên bản đối soát. Về phía người sử dụng dịch vụ ông Cao Văn Đ đã trực tiếp tạo trên tài khoản shop S21999975 để tiến hành thực hiện việc chuyển các đơn hàng như đã thỏa thuận với Công ty cổ phần G, quá trình sử dụng dịch vụ ông Đ sử dụng tài khoản shop S21999975 để thực hiện thành công các đơn hàng, tuy nhiên ông không thanh toán lại tiền sử dụng dịch vụ cho Công ty G1 dẫn đến nợ phí dịch vụ, sau nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông Đ - chủ shop không thanh toán buộc Công ty G1 phải làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Đ trả số tiền nợ sử dụng phí dịch vụ trên. Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện tại các biên bản đối soát, tài khoản ngân hàng mà ông Đ mở, ví điện tử ông Đ đăng ký sử dụng và những lần rút tiền từ tài khoản của ông Đ đã thể hiện ông Đ sử dụng dịch vụ của Công ty G1 và rút tiền từ tài khoản dịch vụ, tuy nhiên ông không thanh toán chi phí dịch vụ lại cho Công ty G1.

[3.1] Xét lời khai và các tài liệu chứng cứ kèm theo thấy rằng: Việc sử dụng công nghệ thông tin, các tài khoản mạng xã hội thay thế cho các dịch vụ truyền thống đã trở nên phổ biến, trong giao dịch dân sự này các bên đã sử dụng công nghệ thông tin để xác lập hợp đồng dịch vụ là phù hợp với tình hình thực tế, tuy nhiên loại giao dịch này được xác lập có điều kiện, bên cung cấp dịch vụ Công ty G1 có đủ giấy phép đăng ký kinh doanh, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật, yêu cầu bên sử dụng dịch vụ cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân, xác nhận khuôn mặt khi đăng ký dịch vụ, cam kết sử dụng đúng thông tin và các điều kiện khác của đơn vị cung cấp dịch vụ, ngược lại người sử dụng dịch vụ cũng phải tuân thủ đúng quy trình và đáp ứng đầy đủ điều kiện của nhà cung cấp dịch vụ, quá trình sử dụng dịch vụ các bên cam kết thực hiện như đã thỏa thuận. Các tài liệu, chứng cứ của người khởi kiện cung cấp đã đảm bảo thể hiện đầy đủ từ việc xác lập hợp đồng, đến cung cấp dịch vụ việc chuyển tiền, rút tiền dịch vụ của ông Cao Văn Đ, những lần rút tiền và quy trình thông báo yêu cầu trả nợ đến khi khởi kiện.

[3.2] Về thực hiện nghĩa vụ của bị đơn: Tại thông báo thực hiện nghĩa vụ trả tiền lần 2 ngày 24/10/2023 của Công ty G1, ông Cao Văn Đ là người trực tiếp nhận và cung cấp thông tin số điện thoại, đồng thời không có ý kiến phản hồi cho Công ty G1 để thỏa thuận hay phản đối việc trả số tiền trên. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập ông Cao Văn Đ lên làm việc để ông bảo vệ ý

kiến, quan điểm của mình nhưng ông Đ không có mặt theo thông báo của Tòa án, tự ý rời khỏi địa phương nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, việc ông Cao Văn Đ không có mặt để bảo vệ ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như xác định trách nhiệm của mình đối với khoản nợ mà nguyên đơn yêu cầu thanh toán, và không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem xét. Như vậy, xem như ông Đ đã bỏ mặc và thừa nhận các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là hợp lệ. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Cao Văn Đ phải trả cho Công ty G1 số tiền từ việc sử dụng phí dịch vụ là: 22.437.721 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi mốt đồng) là hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về lãi suất: Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa đại diện của Công ty G1 yêu cầu hội đồng xét xử xem xét về số tiền lãi do ông Cao Văn Đ đã chậm trả. Thời điểm tính lãi từ ngày 11/4/2023 đến ngày 12/9/2024 là 519 ngày mức lãi suất công ty cổ phần G yêu cầu là 10%/ năm. Xét thấy yêu cầu của công ty cổ phần G là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với số tiền gốc là 22.437.721 đồng của Công ty G1, cụ thể tiền lãi được tính như sau:

22.437.721đ x 10% : 365 x 519 ngày = 3.190.460 VNĐ

Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi mà ông Cao văn Đ phải trả cho Công ty G1 tính đến ngày 12/9/2024 là: 25.628.181 đồng (Hai mươi lăm triệu, sáu trăm hai mươi tám nghìn, một trăm tám mươi mốt đồng)

[5] Về án phí: Ông Cao Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 357, 513, 515, 519 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần G: Buộc ông Cao Văn Đ phải trả cho Công ty cổ phần G tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 12/9/2024 là: 25.628.181 đồng (Hai mươi lăm triệu, sáu trăm hai mươi tám nghìn, một trăm tám mươi mốt đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Ông Cao Văn Đ phải chịu 1.281.409 đồng (Một triệu hai trăm tám mốt nghìn, bốn trăm lẻ chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty cổ phần G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty cổ phần G số tiền là 594.602đ (Năm trăm chín mươi tư nghìn sáu trăm lẻ hai đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004178 ngày 16/01/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

3. Về quyền kháng cáo. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc lặc;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 15/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số quyết định: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger