Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÁT XÁT

TỈNH LÀO CAI

Số:15/2023/QÐST-HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bát Xát, ngày 11 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 và khoản 4 Điều 397 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 19/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con khi ly hôn”. Gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Nguyễn Văn C - Sinh năm 1994

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi tạm trú: Tổ B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Chị Tạ Thị N - Sinh năm 1999

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi tạm trú: Tổ B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Tạ Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/10/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau kết hôn anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong cách nuôi dạy con chung, trong xây dựng kinh tế gia đình từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống chung không hòa thuận hạnh phúc. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hai bên tham gia khuyên bảo hòa giải nhiều lần, nhưng anh chị vẫn không khắc phục được mâu thuẫn, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Do không khắc phục được mâu thuẫn anh chị đã tự sống ly thân nhau từ năm 2021, trong thời gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm thăm hỏi đến nhau. Đến nay, mâu thuẫn của anh chị đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó anh chị đều nhất trí thuận tình ly hôn và yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị theo quy định của pháp luật.

Xét thấy sự thỏa thuận giữa hai anh chị là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận là phù hợp với Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống anh Nguyễn Văn C và chị Tạ Thị N có hai người con chung là cháu Nguyễn Kiều M, sinh ngày 20/12/2015 và cháu Nguyễn Bích N, sinh ngày 28/6/2018, cả hai cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn anh chị thỏa để anh Nguyễn Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Kiều M và Nguyễn Bích N đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Tạ Thị N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét thấy sự thỏa thuận về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của hai anh chị là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận là phù hợp với Điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn C và chị Tạ Thị N thỏa thuận mỗi người chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Đã hết thời hạn 07 (Bẩy) ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn C và chị Tạ Thị N.
    2. Về con chung: Anh Nguyễn Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Kiều M, sinh ngày 20/12/2015 và cháu Nguyễn Bích N, sinh ngày 28/6/2018 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Tạ Thị N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, chị Tạ Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

  2. Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn C và chị Tạ Thị N mỗi người phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh, chị đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0002440 ngày 19/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Anh Nguyễn Văn C và chị Tạ Thị N đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
  3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND huyện Bát Xát (02);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND thị trấn Y;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Bát Xát;
  • - Lưu hồ sơ; Tập QĐ; VP.

THẨM PHÁN

(Đã ký)

Phạm Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 15/2023/QÐST-HNGĐ ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI về công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 15/2023/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quyết định yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự giữa anh Nguyễn Văn C và chị Tạ Thị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger