Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

Số: 15/2025/QĐ-PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bến Tre, ngày 14 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Lương
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Đạt
Ông Nguyễn Thế Hồng

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Khắc Phiên – Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 101/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã căn cứ vào Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Số A ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Cao Phúc D, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số C Đ, ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 22 tháng 9 năm 2024 bà Nguyễn Thị Tuyết N kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình số 101/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp phát biểu: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 101/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh bến Tre.

XÉT THẤY:

[1] Xét thấy: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N ghi địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Cao Phúc D, sinh năm 1983 tại số nhà: 312/BĐ, ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án Tòa án không tống đạt được Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn ông Cao Phúc D, do ông D không còn sinh sống tại địa chỉ nêu trên. Tại biên bản xác minh của Tòa án ngày 25/7/2024, được địa phương và ông Cao Văn Đ (cha ruột ông D) cung cấp thông tin: Ông Cao Phúc D, sinh năm 1983 có đăng ký thường trú tại số: 312/BĐ, ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre nhưng ông D đã vắng mặt tại địa phương nhiều năm, hiện nay ông D đang ở đâu thì ông Đ và địa phương không rõ. Tòa án đã tống đạt Thông báo số 19/TB-TA ngày 12/8/2024 yêu cầu bà N cung cấp địa chỉ mới của ông D nhưng hết thời hạn bà N không cung cấp được. Qua đó xét thấy, việc bà N không cung cấp được địa chỉ mới của ông D là thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự (theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao) nên Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, bà N được quyền khởi kiện lại sau khi đã xác định được địa chỉ của ông D và cung cấp cho Tòa án.

[2] Ngày 22 tháng 9 năm 2024, bà N kháng cáo cho rằng bà đã cung cấp địa chỉ nơi đăng ký thường trú của ông D là đúng với sổ hộ khẩu hộ bà Phan Thị R. Nhưng qua xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy ông Cao Phúc D đã rời khỏi địa phương từ năm 2022 đến nay, không thông báo cho gia đình về nơi ở hiện nay và cũng không đăng ký tạm trú tạm vắng tại cơ quan có thẩm quyền tại địa phương. Trường hợp không thể xác định được ông D đang ở đâu bà N có quyền yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết,... theo thủ tục việc dân sự làm cơ sở để yêu cầu khởi kiện vụ án ly hôn. Do đó, kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết N đối với Quyết định đình chỉ nêu trên là không có cơ sở được chấp nhận.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét kháng cáo nên được chấp nhận.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết N.

2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 101/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh bến Tre.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004732 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bà N đã nộp xong.

4. Quyết định dân sự này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 15/2025/QĐ-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số quyết định: 15/2025/QĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger