TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 15/2025/HSST-QĐ | Vạn Ninh, ngày 24 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Nhật Hoàng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Quý;
- Ông Hồ Quang Thành.
Căn cứ Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ kết quả việc xét hỏi tại phiên tòa;
Xét thấy: Cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
QUYẾT ĐỊNH:
Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Thị N (Tên gọi khác: Ni) - sinh năm: 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi tạm trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:
- Tại các lời khai trong quá trình điều tra của Lê Hữu L, Nguyễn Văn T, Ngô Thị T1, Nguyễn Văn L1, Đặng Thị N, Trần Thị Minh V và lời khai của Đặng Thị N tại phiên tòa đều thể hiện: Vào tối ngày 01/10/2023 đến rạng sáng ngày 02/10/2023, tại phòng 302 nhà nghỉ G; các đối tượng gồm L, T, T1, L1, N và V đã cùng nhau sử dụng ma tuý; L và T là người khởi xướng, cung cấp ma tuý, chuẩn bị công cụ như loa, đèn, máy chiếu, đĩa, thuê phòng; trong quá trình sử dụng ma túy thì L gọi thuê N “dìu” bay cho L1 rồi sau đó gọi V đến để cùng sử dụng ma túy. Cả nhóm đã sử dụng ma tuý xong thì N và V đi về trước; số người còn lại dọn dẹp phòng 302; loa, đèn, máy chiếu được đưa ra hành lang (trước cửa phòng 302); đĩa sứ đựng ma tuý và thẻ ATM xào ma tuý đã được rửa, lau chùi sạch.
- Tại các biên bản lấy lời khai ngày 29/12/2023 (bút lục số 246) và ngày 02/01/2024 (bút lục số 247 – 248); Trần Thị Minh V khai số ma túy mà V bị thu giữ ngày 04/10/2023 có nguồn gốc lấy từ buổi sử dụng ma túy tại phòng 302 nhà nghỉ G vào tối ngày 01/10/2023 đến rạng sáng ngày 02/10/2023 do T, L tổ chức sử dụng; phù hợp với lời khai của bị cáo N tại phiên tòa, V có cùng bị cáo sử dụng chung số ma túy có trên dĩa sứ trắng.
- Tại các biên bản ghi lời khai ngày 05/10/2023; ngày 31/10/2023 (BL 203 – 205), bị cáo N khai về việc thẻ ATM được thu giữ ngày 04/10/2023 của bị cáo có dính bột màu trắng, do N dùng để cà (xào) số ma túy trên đĩa sứu trắng tại buổi sử dụng ma túy do T, L tổ chức sử dụng tại phòng số 302 nhà nghỉ G vào tối ngày 01/10/2023 đến rạng sáng ngày 02/10/2023.
Tại phiên tòa, bị cáo N khai từ sau buồi sử dụng ma túy do L gọi đến đến ngày làm việc tại cơ quan điều tra 04/10/2023; bị cáo không sử dụng ma túy lần nào nữa. Tại các Phiếu Kết quả xét nghiệm ma tuý ngày 02/10/2023 của Lê Hữu L, Nguyễn Văn T, Ngô Thị T1, Nguyễn Văn L1 và Phiếu Kết quả xét nghiệm ma tuý ngày 0410/2023 của Đặng Thị N đều giống nhau về loại ma túy, cụ thể: Chân số 1,3,5: MET (ma túy đá), MDMA (ma túy tổng hợp); KET (ketamin) xuất hiện 01 vạch chứng (C), kết quả của Trần Thị Minh V cũng là MDMA (ma túy tổng hợp).
Đồng thời tại kết luận giám định số 504 ngày 07/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh K đối với các vật chứng thu giữ được từ bị cáo Đặng Thị N thể hiện:
- + Chất bột bám dính trên thẻ ATM (mẫu A) là ma tuý, không xác định được khối lượng, loại Ketamine.
- + Tinh thể màu trắng (mẫu B) là ma tuý, khối lượng 0,0892g, loại Ketamine.
- + Mẫu B1 gồm: Tinh thể màu trắng là ma tuý, có khối lượng 0,0809g, loại Ketamine. Chất bột màu trắng là ma tuý, có khối lượng 0,1603g, loại Ketamine. Viên ném màu xanh là ma tuý, có khối lượng 0,2251g, loại MDMA.
- + Các viên nén màu xám (mẫu B2) là ma tuý, có tổng khối lượng 0,3874g, loại MDMA.
- + Tinh thể màu trắng (mẫu B3) là ma tuý, có khối lượng 0,2805g, loại Ketamine.
Tại kết luận giám định số 505 ngày 07/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Viên nén màu xanh dương (trong mẫu C thu giữ từ Trần Thị Minh V là ma tuý, có khối lượng 0,0472g, loại MDMA; V khai lấy từ buổi sử dụng ma túy tại phòng 302 nhà nghỉ G vào tối ngày 01/10/2023 đến rạng sáng ngày 02/10/2023 do T, L tổ chức sử dụng.
Như vậy, số ma túy thu giữ được từ bị cáo N và đối tượng V vào ngày 04/10/2023 trùng khớp về loại đối với loại ma túy đã xét nghiệm mà L, T, T1, L1, N, V sử dụng; phù hợp lời khai các đối tượng và các lời khai ban đầu của bị cáo Đặng Thị N về nguồn gốc của ma túy mà N, V tàng trữ.
- Ngoài ra, các lời khai của các đối tượng đều thể hiện việc tổ chức sử dụng ma túy tại phòng 302 nhà nghỉ G vào tối ngày 01/10/2023 đến rạng sáng ngày 02/10/2023; các đối tượng cũng đều xác định chiếc đĩa sứ thu giữ tại phòng 302 nhà nghỉ G là dĩa sứ mượn từ nhà nghỉ G dùng để đựng ma túy sử dụng; hoàn toàn phù hợp với lời khai của chủ nhà nghỉ G về địa điểm tổ chức, dụng cụ sử dụng.
Như vậy, đối tượng Lê Hữu L, Nguyễn Văn T đã có hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ và địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép ma túy cho L, T1, T, L1, N, V sử dụng.
Do đó, đề nghị điều tra bổ sung làm rõ các vấn đề sau:
- Làm rõ việc Lê Hữu L, Nguyễn Văn T có phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không?
- Tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa Lê Hữu L, Nguyễn Văn T và Ngô Thị T1 để làm rõ hành vi của Ngô Thị T1 (bạn gái của T) đối với việc T1 có cùng đóng góp tiền trả mua ma túy, thuê dụng cụ sử dụng ma túy cho L để làm rõ T1 có vai trò đồng phạm đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cùng T, L hay không?
- Bị cáo N được thuê đến để “dìu bay” cho L1, L và được trả công cho việc này số tiền 500.000 đồng. Làm rõ hành vi của Đặng Thị N ngoài phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, còn đồng phạm đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không?
- Tiến hành đối chất giữa bị cáo Đặng Thị N với các đối tượng Lê Hữu L, Nguyễn Văn T, Ngô Thị T1, Nguyễn Văn L1 và Trần Thị Minh V đối với việc N khai ban đầu rằng số ma túy thu giữ trong giỏ xách của N là lấy từ buổi sử dụng ma túy tại phòng 302 nhà nghỉ G vào tối ngày 01/10/2023 đến rạng sáng ngày 02/10/2023 do T, L tổ chức sử dụng để làm rõ lời khai nào của bị cáo N là đúng.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Nhật Hoàng |
Quyết định số 15/2025/HSST-QĐ ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự
- Số quyết định: 15/2025/HSST-QĐ
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo: Đặng Thị N (Tên gọi khác: Ni) - sinh năm: 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi tạm trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.Cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh để điều tra bổ sung
