TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 147/2025/DS-PT
Ngày: 01-04-2025
V/v: “Tranh chấp QSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Bà Lê Thị Minh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Thúy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 04 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 506/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất ".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 155/2024/DSST ngày 17 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 82/2025/QĐPT-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số I, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Bảo Q, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số A, khu V, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 02/10/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Viết H, sinh năm 1951; Địa chỉ: Số I, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn C, sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Ông Trần Thế A, sinh năm 1988. Vắng mặt.
- Ông Trần Thế T, sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1993. Có mặt
Cùng địa chỉ: Số I, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Ông Huỳnh Lê Hoài A1, sinh năm 1979. Vắng mặt
- Bà Huỳnh Lê Như A2, sinh năm 1981. Có mặt
- Ông Huỳnh Lê Thế A3, sinh năm: 1999. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số I, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Ông Phạm Diệp Anh V, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Số A, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu:
Bà Nguyễn Thị M được mẹ ruột là bà Nguyễn Thị P tặng cho phần đất và đã được Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03037 ngày 12/12/2002 đối với thửa đất số 123 và thửa đất số 138, tờ bản đồ số 05, tổng diện tích đất 235,25 m², loại đất AO và T, tọa lạc tại khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay là khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ). Tiếp giáp các thửa đất này là phần đất ao, mương có diện tích hơn 80 m² nên bà M không kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến tháng 6/2003, bà M chuyển nhượng bằng giấy tay một phần diện tích đất phía trước cho ông Phạm Diệp Anh V. Ông Vũ tự hợp thức hóa thủ tục và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03409 ngày 27/6/2003, diện tích 110,6 m², thửa đất số 124. Phần diện tích đất còn lại phía sau khoảng 80 m² cuả bà M, sau đó được bồi lắp và san lắp mặt bằng quản lý, sử dụng. Đến tháng 10/2007, ông V đã chuyển nhượng lại cho bà Lê Thị Viết H toàn bộ diện tích đất thuộc thửa 124, tờ bản đồ số 05, diện tích 110,6 m². Tháng 11/2016, bà H tặng cho con Huỳnh Lê Hoài A1 một phần thửa đất số 124, diện tích 46,2 m², sau đó ông Huỳnh Lê Hoài A1 được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02760 ngày 17/11/2016, thửa đất số 399 (tách từ thửa 124), diện tích 46,2 m². Phần diện tích đất còn lại của bà H sử dụng là 64,4 m². Trong quá trình sử dụng đất, phía bà M phát hiện bà H lấn chiếm, cất nhà trên phần đất của bà M, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà M nên bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Viết H tháo dỡ, di dời nhà, vật kiến trúc để trả lại cho bà M diện tích đất khoảng 85,3 m².
Nay bà Nguyễn Thị M yêu cầu buộc bị đơn Lê Thị Viết H trả lại cho nguyên đơn giá trị theo kết quả định giá đối với phần đất tranh chấp có diện tích 36,8 m², thể hiện tại vị trí B và một phần vị trí A (trừ 16,2 m² lấn rạch) theo Trích đo địa chính số 554/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C.
- Bị đơn Lê Thị Viết H trình bày: Vào năm 2007, bà Lê Thị Viết H có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Diệp A4 Vũ diện tích 110,6 m², thuộc thửa đất 124, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại khu V, phường H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay là khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03409 cấp ngày 27/6/2003 và bà đã chỉnh lý biến động đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày 23/10/2007. Sau đó, có tặng cho một phần diện tích đất 46,2 m², thuộc thửa 124 cho con ruột là Huỳnh Lê Hoài A1. Diện tích đất còn lại trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà là 64,4 m². Phần đất mà bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu bà H trả lại là phần đất trước đây ông V đã xây dựng nhà và chuyển nhượng lại cho bà tiếp tục sử dụng. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M thì bà Lê Thị Viết H không thống nhất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn C, Trần Thế A, Trần Thế T và Trần Thị Kim D thống nhất với phần trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị M.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Lê Hoài A1, Huỳnh Lê Như A2 và Huỳnh Lê Thế A3 thống nhất với phần trình bày của bà Lê Thị Viết H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 155/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị M về việc yêu cầu buộc bị đơn Lê Thị Viết H trả lại giá trị theo kết quả định giá đối với phần đất tranh chấp có diện tích 36,8 m², thể hiện tại vị trí B và một phần vị trí A (trừ 16,2 m² lấn rạch) theo Trích đo địa chính số 554/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C là phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2024 nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bà M trả giá trị quyền sử dụng đất lấn chiếm 36,8m² với số tiền 257.600.000₫.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- Bị đơn đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án và kháng cáo: cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh là của nguyên đơn, đất tranh chấp do phía bị đơn sử dụng từ năm 2003 cho đến nay nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, đề nghị không chấp nhận yêu kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp quyền sử dụng đất” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần 2, căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của nguyên đơn, nhận thấy:
Theo kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ và xác minh phần đất tranh chấp, xác định phần đất tranh chấp có diện tích 36,8 m², loại đất NTS, thể hiện tại vị trí B và một phần vị trí A (trừ 16,2 m² đất lấn rạch) theo Trích đo địa chính số 554/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C là phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất này được ông Phạm Diệp Anh V cất nhà và sử dụng từ năm 2003, đến năm 2007 thì chuyển nhượng lại cho bà Lê Thị Viết H sử dụng cho đến nay.
Quá trình xác minh, được ông Nguyễn Văn M1 là phó khu vực 2, phường H cung cấp thông tin: “Phần đất tranh chấp trước đây là mương rạch, không xác định được ai quản lý sử dụng”. Theo nội dung Công văn số 2523/UBND ngày 12/9/2024 của Ủy ban nhân dân quận C về việc cung cấp thông tin địa chính cho Tòa án nhân dân quận Cái Răng xác định phần đất tranh chấp từ trước đến nay chưa ai kê khai đứng tên trong số mục kê, sổ đăng ký ruộng đất. Cạnh đó, theo văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân phường H, quận C trước đây thì phần diện tích đất này không phải là đất công do Nhà nước quản lý.
Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất tranh chấp được nguyên đơn quản lý sử dụng từ trước đến nay do được mẹ ruột là bà P tặng cho. Tuy nhiên, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà P và sau đó tặng cho lại cho nguyên đơn. Hơn nữa, khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03037 ngày 12/12/2002 đối với các thửa đất số 123 và 138 là thửa đất nằm tiếp giáp phần đất tranh chấp, nguyên đơn cũng không kê khai để yêu cầu cấp giấy chứng nhận. Cạnh đó, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nguyên đơn cũng thừa nhận phần diện tích đất tranh chấp được ông V xây dựng nhà để ở và sau này là bà H sử dụng từ năm 2003 đến nay.
Từ những căn cứ nêu trên, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bà M là người cao tuổi nên được miễn án phí.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 155/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị M về việc yêu cầu buộc bị đơn Lê Thị Viết H trả lại giá trị theo kết quả định giá đối với phần đất tranh chấp có diện tích 36,8 m², thể hiện tại vị trí B và một phần vị trí A (trừ 16,2 m² lấn rạch) theo Trích đo địa chính số 554/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C là phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Về chi phí đo đạc, định giá: Nguyên đơn Nguyễn Thị M phải chịu số tiền 9.500.000 đồng chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản tranh chấp và lệ phí trích đo địa chính. Số tiền này nguyên đơn đã nộp và đã được chi xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Quyết định số 147/2025/DS-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 147/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
