|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 1457/2024/QĐST-HNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thành phố Thủ Đức, ngày 19 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Điều 212 và Điều 213, Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc việc hôn nhân gia đình thụ lý số 582/2024/TLST-VHNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- - Ông Trần Anh T, sinh năm 1981.
- Địa chỉ: Căn hộ S, Tầng B, Tòa S501, khu dân cư và công viên P, số 512 N, Tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1981.
- Địa chỉ: Số A, Lô C, khu C, Nguyễn Hữu T2, Tổ H, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và căn cứ lời khai của đương sự trong quá trình tố tụng, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Người yêu cầu ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận kết hôn số 159 ngày 21/10/2009. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị T1 là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc bình thường đến khoảng năm 2021 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được. Nguyên nhân chính là do tính tình hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung. Ông bà không còn sống chung với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng cũng không thể hàn gắn được. Nay ông bà xác định vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho ông bà là có cơ sở.
[2] Về con chung: Có 03 người con chung tên Trần Bảo H, sinh ngày 15/12/2010, Trần A, sinh năm 04/6/2015 và Trần Bình M, sinh năm 31/3/2017. Hai bên thỏa thuận được bà T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung, ông T cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/con/tháng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
[3] Về tài sản chung: Ông T và bà T1 trình bày không có.
Về nợ chung: Ông T và bà T1 trình bày không có.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ việc;
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
sau:
- Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Thanh thuận t ly hôn.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 159 ngày 21/10/2009 do Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội cấp cho ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị T1 không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Có 03 người con chung tên Trần Bảo H, sinh ngày 15/12/2010, Trần A, sinh năm 04/6/2015 và Trần Bình M, sinh năm 31/3/2017. Bà T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung, ông T cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/con/tháng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung: Ông T và bà T1 trình bày không có.
- - Về nợ chung: Ông T và bà T1 trình bày không có.
- Về lệ phí hôn nhân và gia đình: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mỗi người phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị T1 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0025674 ngày 18/3/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị T1 đã nộp đủ lệ phí.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Trường hợp ông Trần Anh T không tự nguyện thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con thì bà Nguyễn Thị T1 có quyền yêu cầu Thi hành án. Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Anh T chưa trả hết tiền cấp dưỡng thì còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm (mười phần trăm một năm) tương ứng với thời gian chậm trả.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Xuân Tùng |
Quyết định số 1457/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 1457/2024/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thuận tình ly hôn T.T1
