Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CL

TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/5/2024

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH BT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đinh Hồ Mỹ Ngọc;

Ông Trương Thanh Long.

Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh BT tham gia phiên toà:

ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Trang Sĩ T - sinh năm: 1996; địa chỉ: ấp BT, xã HN, huyện CL, tỉnh BT. có mặt.

Bị đơn: bà Dương Thị Thúy U - Sinh năm: 1997; địa chỉ: ấp BT, xã HN, huyện CL, tỉnh BT. Nơi cư trú: ấp LH, xã LT, huyện CL, tỉnh BT. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/11/2023 và tại phiên tòa hôm nay (ông T) trình bày: Vào năm 2021 ông với bà U được sự đồng ý của gia đình hai bên nên ông T và bà U tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán truyền thống và đăng ký kết hôn tại UBND xã HN vào ngày 03/03/2021. Sau khi kết hôn thì ông bà chung sống với cha mẹ ông T ở ấp BT, xã HN, hạnh phúc được khoảng 6 tháng, đến tháng 10/2021 thì cha mẹ vợ cho đất và ông bà đã cất nhà ở ấp LH, xã LT, huyện CL, tỉnh BT.

Quá trình chung sống thì ông bà sống hạnh phúc được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cải, không hòa thuận hạnh phúc, vợ chồng mất niềm tin với nhau, không ai hiểu ai, nên nẩy sinh nhiều chuyện bất hòa, không có tiếng nói chung. Dù sống chung mái nhà nhưng không ai hiểu ai nên không thể vun đắp hạnh phúc được. Đến tháng 01/2023 thì ông T về cha mẹ ruột ở ấp BT sống đến nay, còn bà U thì sống cha mẹ vợ ở ấp LH, xã LT.

Từ đó, ông T nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể kéo dài, đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng không thể hàng gắn được.

Vì vậy, nay ông T yêu cầu Tòa giải quyết cho ông được ly hôn với vợ ông là bà bà U và không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn.

Về con chung: có 01 người con chung tên Trang Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 01/10/2021, hiện đang sống với bà Uyên tại ấp LH, xã LT. Sau khi ly hôn ông T đồng ý để cho bà U tiếp tục nuôi con vì cháu Ncòn nhỏ, ông T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có.

Còn đối với bị đơn là bà U mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các chứng cứ kèm theo do nguyên đơn cung cấp; Thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà U vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà U theo qui định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 203 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, cho thấy cuộc sống hôn nhân của ông T, bà U đã có sự mâu thuẫn trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ:

[1] . Về tố tụng và quan hệ tranh chấp: Hội đồng xét xử xét thấy, do mâu thuẫn giữa vợ chồng, ông T có đơn yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với bà U nên đây là vụ kiện: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là bà U hiện đang cư trú tại ấp LH, xã LT, huyện CL, tỉnh BT nên Tòa án nhân dân huyện CL thụ lý vụ án giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bà Dương Thị Thúy U được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà vẫn cố tình vắng mặt không lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà theo qui định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét thấy, hôn nhân giữa ông T và bà U là trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân không có sự ép buộc. Ông bà cũng đã đi đăng ký kết hôn theo đúng qui định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho rằng quan hệ hôn nhân của ông với bà U đã có sự phát sinh mâu thuẩn, không thể hàn gắn được là có cơ sở.

Bởi lẽ, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời bà đến để tạo điều kiện hòa giải hàn gắn quan hệ hôn nhân của ông bà nhưng bà U vẫn cố tình vắng mặt không lý do, kể cả quá trình hòa giải đối thoại. Mặc khác, sau khi Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc Tòa đã công khai các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bà nhưng bà vẫn không có văn bản phản hồi, chứng tỏ hôn nhân của ông bà đã có sự rạn nứt như ông T trình bày. Từ các căn cứ trên, xét thấy yêu cầu xin ly hôn của ông T là có cơ sở để chấp nhận theo qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên ghi nhận.

[4] Về con chung: trong quá trình sống chung ông T và bà U có tạo ra 01 người con chung tên Trang Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 01/10/2021, hiện đang sống với bà U tại ấp LH, xã LT. Sau khi ly hôn ông Tiến đồng ý để cho bà U tiếp tục nuôi con, ông T không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ khi ông bà sống ly thân khoảng hơn 01 năm nay thì bà U vẫn là người nuôi con (sự việc đã được xác nhận tại biên bản xác minh ngày 27/02/2024). Hơn nữa hiện tại cháu N vẫn còn nhỏ nên việc giao cháu cho mẹ chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Mặc khác, từ khi Tòa thụ lý giải quyết và tống đạt văn bản tố tụng cho bà, trong thông báo vẫn thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về con chung nhưng bà không có ý kiến phản hồi chứng tỏ bà chấp nhận yêu cầu của ông T. Từ các căn cứ trên xét thấy, việc ông T đồng ý để bà U được tiếp tục nuôi người con chung của ông bà là có cơ sở nên chấp nhận.

[5] Tài sản và nợ chung: ông T cho rằng trong quá trình sống chung ông với bà U không có tài sản chung và cũng không có nợ ai nên ông T không yêu cầu Tòa giải quyết nên ghi nhận.

[6] Từ các căn cứ trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với qui định của pháp luật nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-BTVQH14 và điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên:

- Về quan hệ hôn nhân: cho ông Trang Sĩ T được ly hôn với bà Dương Thị Thúy U.

Ghi nhận việc ông Trang Sĩ T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Giao cho bà U được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trang Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 01/10/2021 (hiện đang sống với bà U tại ấp LH, xã LT).

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, bà U và ông T có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Nợ chung: không có.

Về án phí: Buộc ông Trang Sĩ T phải nộp 300.000đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Số tiền ông T nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai số 0001352, ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh BT được chuyển sang án phí.

- Về quyền kháng cáo: ông Trang Sĩ T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Dương Thị Thúy U được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

- Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo qui định của pháp luật.

- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện CL;
  • - Chi cục T.H.A.D.S huyện CL;
  • - Phòng KTNV-THA TAND tỉnh BT;
  • - UBND xã HN;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




LÊ THỊ THÚY HẰNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 140/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH BT về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số quyết định: 140/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH BT
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trang Sĩ Tiến xin ly hôn tranh chấp con với bà Dương Thị Thúy Uyên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger