TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 21/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hảo ông Nguyễn Văn Quýnh
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Quyết- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 01/TB-TA, ngày 03/12/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA, ngày 20/12/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 03/TB-TA, ngày 25/12/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 04/TB-TA, ngày 13/01/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 05/TB-TA, ngày 09/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Bích A (tên gọi khác: không), giới tính: nữ, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1989, tại huyện M, thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: số A, ngõ G, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn lớp: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T. Chồng: Lưu Quốc H, bị cáo có 03 con (sinh năm 2012, 2015 và 2019). Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 22/4/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023. Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam P, Thái Nguyên. Có mặt.
- Bị hại: Chị Mễ Thị Y, sinh năm 1995. Nơi thường trú: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+) Chị Mễ Thị Y1, sinh năm 1992. Nơi thường trú: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang chấp hành án tại tại trại giam S Công an thành phố H. Vắng mặt.
+) Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964. Nơi thường trú: thôn P, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Bích A và Mễ Thị Y1 đều bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và cùng bị tạm giam tại buồng giam M2E thuộc Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. Trong thời gian này, do tin tưởng nên Y1 thường xuyên tâm sự, kể chuyện về gia đình với Bích A. Đến khoảng cuối tháng 3/2023, Y1 biết việc Bích A được chuẩn đoán mang thai và sẽ được ra ngoài trại tạm giam để khám, nên Y1 đưa số điện thoại của chị Mễ Thị Y (là em gái) cho Bích A và nhờ Bích A, khi nào được ra ngoài thì liên lạc cho chị Y để đến thăm gặp, tiếp tế cho Y1. Đến ngày 04/4/2023, Bích A được thăm khám, chuẩn đoán xác định có 01 thai lưu khoảng 08 tuần 04 ngày và được chỉ định nhập viện theo dõi, điều trị tại Bệnh viện Đ2, thành phố Hà Nội và bà Nguyễn Thị T (là mẹ đẻ của Bích A) được tạo điều kiện túc trực, chăm sóc cho Bích A. Đến đêm ngày 05/4/2023 và rạng sáng ngày 06/4/2023, lợi dụng sơ hở của cán bộ quản giáo trại tạm giam, Bích A đã lấy điện thoại di động của bà T, rồi liên lạc với chị Y và giới thiệu là bạn cùng buồng giam với chị Y1, hiện đã được thả tự do về chữa bệnh. Bích A nói với chị Y là bản thân có khả năng “chạy án” cho chị Y1 được hưởng án treo và yêu cầu gia đình chị Y thu xếp số tiền 200.000.000 đồng lo việc “chạy án”, đồng thời cung cấp số tài khoản Ngân hàng của bà T cho chị Y để chuyển tiền. Do tin tưởng Bích A, chị Y đồng ý và dùng số tài khoản 8180118888818 mở tại Ngân hàng M của chị Y chuyển số tiền 100.000.000 đồng đến số tài khoản 105005161067 mở tại Ngân hàng V1 mang tên “NGUYEN THI TUYEN”, số tiền còn lại Bích A nói cho chị Y mượn. Đến chiều ngày 06/4/2023, Bích A tiếp tục lấy điện thoại của bà T gọi cho chị Y và bảo chuyển thêm 30.000.000 đồng để lo chi phí phát sinh, nhưng do không có tiền, nên chị Y chỉ chuyển thêm được 10.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng của bà T cho Bích A.
Sau khi nhận được 110.000.000 đồng của chị Y, Bích A chuyển 54.000.000 đồng đến số tài khoản số 8899999799999 của anh Tạ Văn Đ mở tại Ngân hàng M1 để trả nợ cho anh Đ, chuyển 20.000.000 đồng đến số tài khoản 999931994 của chị Phạm Thị Q mở tại Ngân hàng M1 và chuyển 10.000.000 đồng đến số tài khoản 1015375136 của anh Nguyễn Quang V mở tại Ngân hàng V2, nhờ chị Q và anh V mua nước hoa, đồ ăn để gửi cho Bích A, chuyển 382.000 đồng đến số tài khoản 428626140204 của anh Trần Văn Đ1 mở tại Ngân hàng T1, nhờ anh Trần Văn Đ1 mua bánh piza để gửi cho Bích A. Còn lại 25.618.000 đồng trong tài khoản, Bích A bảo bà T rút ra dần và gửi vào trại để Bích A ăn uống. Sau khi chị Y nhiều lần gọi điện thoại cho Bích A, nhưng không liên lạc được và sau đó biết là bị lừa, nên đã đến Công an thành phố M trình báo sự việc.
Cơ quan điều tra đã thu giữ nội dung các tin nhắn của Nguyễn Bích A nhắn tin cho chị Mễ Thị Y do chị Y cung cấp, nội dung tin nhắn được xác định là nội dung Bích A hứa hẹn nhận 110.000.000 đồng để giúp chị Y “chạy án” cho Mễ Thị Y1 được hưởng án treo.
Quá trình điều tra, Nguyễn Bích A khai nhận trong các ngày 05 và 06/4/2023, Bích A lấy điện thoại của bà T gọi cho chị Mễ Thị Y và bảo chị Y chuyển tiền 02 lần tổng cộng 110.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của bà T cho Bích A. Sau khi nhận được tiền Bích A chuyển qua tài khoản Ngân hàng cho anh Tạ Văn Đ 54.000.000 đồng để trả nợ, chuyển cho chị Phạm Thị Q 20.000.000 đồng, chuyển cho anh Nguyễn Văn Q1 10.000.000 đồng, chuyển cho anh Trần Văn Đ1 382.000 đồng để nhờ mua nước hoa, đồ ăn và bánh piza để gửi vào trại cho Bích A, còn 25.618.000 đồng trong tài khoản, Bích A bảo bà T rút ra dần và gửi vào trại để Bích A ăn uống. Đồng thời nại ra rằng Mễ Thị Y1 bảo Bích A liên lạc cho chị Y gửi 110.000.000 đồng cho Bích A để thuê Luật sư và gửi quà cho Y1, sau đó lại khai số tiền 110.000.000 đồng được Y1 đồng ý cho Bích A vay để chi tiêu.
- Bị hại chị Mễ Thị Y có lời khai: chị có chị gái là Mễ Thị Y1, sinh năm 1993, nơi thường trú: thôn A, xã H, thành Phố M, tỉnh Quảng Ninh bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Ngày 06/4/2023 có một phụ nữ xưng tên Bích A gọi điện cho chị giới thiệu là bạn bị giam giữ cùng phòng với chị Y1, hiện đã được tha về chữa bệnh. Bích A nói với chị Y là bản thân có khả năng “chạy án” cho chị Y1 được hưởng án treo và yêu cầu gia đình chị Y thu xếp số tiền 200.000.000 đồng lo việc “chạy án”, đồng thời cung cấp số tài khoản Ngân hàng cho chị Y để chuyển tiền. Do tin tưởng Bích A, chị Y đồng ý và dùng số tài khoản 8180118888818 mở tại Ngân hàng M của chị Y chuyển số tiền 100.000.000 đồng đến số tài khoản 105005161067 mở tại Ngân hàng V1 mang tên “NGUYEN THI TUYEN”. Đến chiều ngày 06/4/2023, Bích A tiếp tục lấy điện thoại của bà T gọi cho chị Y và bảo chuyển thêm 30.000.000 đồng để lo chi phí phát sinh, nhưng do không có tiền nên chị Y chỉ chuyển thêm được 10.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng của bà T cho Bích A, Bích A nói với chị Y số tiền 20.000.000 đồng còn lại Bích A cho chị Y mượn. Tuy nhiên, sau khi chuyển tiền cho Bích A đến ngày 07/4/2023 chị có liên lạc điện thoại cho Bích A thì không liệc lạc được. Sau đó chị có nhiều ngày liên lạc nhưng không được. Khoảng 02 tuần sau chị có dùng số điện thoại 0963.356.xxx liên lạc vào số điện thoại 0978.867.xxx thì có một phụ nữ nghe máy và gới thiệu tên T là mẹ của Bích A, chị có hỏi bà T xem tình hình việc Bích A chạy án cho chị gái chị như thế N1, bà T bảo không biết và bà T nói để hỏi lại con gái. Sau đó, không thấy bà T liên lạc chị có gọi vào số máy bà T thì có người đàn ông nghe máy và nói là chuyển nhầm tiền vào tài khoản của bà T nên đã tiêu xài hết. Do đó, nghi ngờ mình bị Bích A lừa nên chị đến Công an thành phố M trình báo. Tại phiên tòa chị Y đề nghị xét xử bị cáo đúng theo quy định của pháp luật và yêu cầu Nguyễn Bích A phải trả lại số tiền 110.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Mễ Thị Y1 có lời khai: khoảng ngày 28/10/2022 chị bị Công an thành phố H bắt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và bị tạm giam tại buồng giam M2E, Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Đến khoảng tháng 02/2023 thì có Bích A được giam cùng với chị, quá trình giam chung Bích A có nói với chị là đã từng lấy chồng M nên chị Y1 tin tưởng và thường xuyên tâm sự. Trong khi tạm giam thì Bích A phát hiện có thai nên được trại giam đưa vào trạm xá để thăm khám. Do chị Y1 bị bắt lâu ngày chưa có người thăm nên có nhờ Bích A khi nào được ra tại ngoại thì liên hệ với em gái chị là Mễ Thị Y và cho số điện thoại của Y cho Bích A để Bích A liên hệ với Y để Y biết địa chỉ của chị Y1 để thăm gặp chị Y1. Khoảng 02 tuần sau Bích A lại được đưa quay về buồng giam của chị Y1 thì chị Y1 hỏi có liên hệ với em gái chị không thì Bích A nói có mượn điện thoại để liên hệ với em gái chị là Mễ Thị Y nhưng Y nói không quan tâm. Sau đó, ngày 20/6/2023 Y được vào thăm Y1, Y có kể cho Y1 biết có một phụ nữ gọi điện thoại xưng tên là Bích A nói giam cùng phòng với chị Y1 đã được ra tại ngoại và nói Y1 nhờ Bích A liên hệ với Y để Bích A lo chạy cho Y1 được tại ngoại và yêu cầu Y chuyển cho Bích A số tiền 200.000.000 đồng. Vì thế Y đã chuyển cho Bích A số tiền 110.000.000 đồng, nhưng sau khi chuyển tiền Y liên lạc thì Bích A không nghe máy và khi liên lạc được thì Y bị người nhà Bích A chửi và nói không trả lại tiền. Sau khi biết được thông tin trên thì chị có hỏi Bích A thì Bích A nói không biết. Chị Y1 khẳng định chị chưa bào giờ nhờ Bích A chạy ra tại ngoại mà chỉ nhờ Bích A liên lạc với em gái để thăm gặp chị; không có việc chị Y1 nhờ Bích A thuê luật sư hay cho Bích A vay tiền như lời khai của Bích A.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T có lời khai: con gái bà là Nguyễn Bích A đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. Ngày 04/04/2023 bà được cán bộ trại giam T2 có thai nhưng đã bị chết lưu đang được điều trị tại bệnh viện Đ2. Do đó, bà có đến bệnh viện C, trong thời gian bà T chăm sóc Bích A tại bệnh viện C có nhiều lần mượn điện thoại di động của bà sử dụng và bà có sử dụng số tài khoản 105005161067 mở tại Ngân hàng V1 mang tên “NGUYEN THI TUYEN”. Ngày 06/4/2023 bà có nhận được số tiền 110.000.000 đồng từ tài khoản 8180118888818 mở tại Ngân hàng M mang tên Mễ Thị Y, nhưng bà được Bích A cho biết số tiền đó là của Bích A nhưng không nói là tiền gì và Bích A dùng tài khoản của bà chuyển tiền đến nhiều tài khoản khác chỉ để lại số tiền 25.618.000 đồng và bảo bà sử dụng số tiền này mua đồ đạc gửi vào trại giam cho Bích A. Mãi đến khi Công an thông báo Bích A dùng điện thoại và số tài khoản của bà để lừa đảo thì bà mới biết.
Bản cáo trạng số 2145/CT-VKSMC, ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Bích A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Bích A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bích A từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2024.
Về bồi thường dân sự: căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Điều 584, 585, 586, 589 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Bích A phải trả cho chị Mễ Thị Y số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng).
Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, xét thấy những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, kết án đối với bị cáo và giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Bích A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chứng cứ: Trong quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bích A hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: do có ý định chiếm đoạt tiền từ trước, nên trong các ngày 05 và 06/4/2023, tại Bệnh viện Đ2 thuộc quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Bích A đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, về việc “chạy án” cho chị Mễ Thị Y1 được hưởng án treo, để chiếm đoạt số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng) của chị Mễ Thị Y.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Bích A đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:...
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;..."
[5] Về đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Bích A là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ nó xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nếu bất cứ ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị.
Nguyễn Bích A là người đã trưởng thành nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do tu dưỡng, rèn luyện đạo đức kém, lười lao động tham lam, trong lúc đang bị giam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng sự tin tưởng của người khác đưa ra thông tin gian rối để bị hại tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo rồi chiếm đoạt lấy tiền tiêu xài cá nhân thỏa mãn nhu cầu bản thân. Do đó, cần có hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và trừng trị riêng đối với bị cáo.
[6] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự có thể phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước. Nhưng xét bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập và đang phải chấp hành án phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về bồi thường dân sự: trong quá trình điều tra bị hại đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải trả lại số tiền 110.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Buộc bị cáo phải bồi thường.
[9] Các tình tiết khác của vụ án: đối với bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ của Bích A) là người bị Bích Anh lấy điện thoại để sử dụng vào các ngày 05, 06/4/2023 và rút dần số tiền 25.618.000 đồng để gửi vào trại cho Bích A, nhưng bà T không biết việc Bích A chiếm đoạt tiền, nên không có căn cứ để xử lý. Việc cán bộ quản giáo Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H sơ hở trong việc quản lý, đã để Bích A sử dụng điện thoại trong khi bị tạm giam, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã có văn bản kiến nghị.
[10] Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm : bị cáo phải chịu theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo : bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 56; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bích A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 16 (mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 227/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 19 (mười chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023.
Về bồi thường dân sự: căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Điều 584, 585, 586, 589, Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Bích A phải trả cho chị Mễ Thị Y số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành chị Mễ Thị Y có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án là bị cáo Nguyễn Bích A không trả cho người được thi hành án số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo bị cáo Nguyễn Bích A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, bị hại biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi thành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Quyết định số 14/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số quyết định: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 3 năm 6 tháng tù
