Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quàng Văn Mầng.

Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn P, sinh ngày 02/10/1991, tại M, Q, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H, sinh năm 1966 và con bà Lò Thị R, sinh năm 1970; có vợ là Quàng Thị C, sinh năm 1990, có hai con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 1013; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Mùa A T, sinh ngày 28/7/1977, tại N, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A P1, sinh năm 1944 và con bà Giàng Thị S, sinh năm 1951; có vợ là Hờ Thị S1, sinh năm 1982, có bốn con lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Mùa A T: Ông Lường Duy T1 - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người phiên dịch cho bị cáo Mùa A T: Bà Vàng Thị D, địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lò Văn PMùa A T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 18/7/2024, tại bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Văn P, sinh ngày 02/10/1991 ở bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La và Mùa A T, sinh ngày 28/7/1977, ở bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Mùa A T tự giác lấy từ trong lòng tay phải giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Lò Văn P và Mùa A T khai là Heroine để sử dụng;

01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu trắng xanh, BKS 26B2-223.11, số khung 1720GY009576, số máy E3T6E073977. Xe cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Văn P.

Ngày 18/7/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do Lò Văn P và Mùa A T tự giác giao nộp:

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,12 gam, lấy 0,06 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu PT;

Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1498/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu PT là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,06 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn P và Mùa A T, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra Lò Văn P và Mùa A T khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/7/2024 Lò Văn P ở bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đến nhà Mùa A T ở bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La rủ đi mua ma túy về sử dụng, Mùa A T nhất trí. Hai người đi đến khu vực bản Đ, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Tại đây hai người gặp một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ hỏi mua được ma túy, với giá 300.000, đồng 01 gói nilon màu trắng. Khi mua Mùa A T trao đổi và lấy tiền từ Lò Văn P để mua ma túy. Sau khi có ma túy hai người lấy mỗi người một ít ma túy và tự sử dụng, số còn lại Mùa A T cầm trong lòng bên phải, hai người đi về đến khu vực bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Hồi 12 giờ 30 phút ngày 18/7/2024 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy Lò Văn P và Mùa A T khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lò Văn P và Mùa A T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 134/CT-VKS-ML ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn P và Mùa A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Lò Văn P và Mùa A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lò Văn P từ 16 đến 22 tháng tù;

Xử phạt Mùa A T từ 14 đến 20 tháng tù.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu trắng; 0,06 gam Heroine (đều được niêm phong).

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước do dùng làm phương tiện để đi mua bán ma túy: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu trắng xanh, BKS 26B2-223.11, số khung 1720GY009576, số máy E3T6E073977. Xe cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Văn P.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A T do sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lò Văn P phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, người bào chữa, nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Mùa A T phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Bị cáo Lò Văn P và Mùa A T thừa nhận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 18/7/2024, tại bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,12 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Lò Văn P và Mùa A T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Đều không có tiền án, tiền sự. Đều thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3]. Xét về vai trò đồng phạm: Bị cáo Lò Văn P với vai trò chủ mưu, đã chủ động rủ rê bị cáo Mùa A T tham gia mua, cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét lên mức hình phạt cho các bị cáo.

[4]. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu trắng; 0,06 gam Heroine (đều được niêm phong).

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước do dùng làm phương tiện để đi mua bán ma túy: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu trắng xanh, BKS 26B2-223.11, số khung 1720GY009576, số máy E3T6E073977. Xe cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Văn P. Được xác định chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo Lò Văn P.

[5]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:

Về nguồn gốc ma túy Lò Văn P và Mùa A T khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Đối với hành vi của Lò Văn P và Mùa A T sử dụng ma túy. Được xác định Lò Văn P và Mùa A T cùng nhau đi mua để sử dụng, khi chia ma túy để sử dụng thì mỗi người tự sử dụng riêng. Lò Văn P và Mùa A T đều không có ý thức cung cấp ma túy cho người khác và nhằm đưa ma túy vào cơ thể của nhau. Nên không có dấu hiệu của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

[6]. Về án phí:

Do bị cáo Lò Văn P và Mùa A T đều không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời các bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố Lò Văn P và Mùa A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn P 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/7/2024.

Xử phạt bị cáo Mùa A T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/7/2024.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu trắng; 0,06 (không phẩy không sáu) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 18/7/2024).

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu trắng xanh, BKS 26B2-223.11, số khung 1720GY009576, số máy E3T6E073977, xe không có gương bên phải, xe không có hộp xích, yên xe có một lỗ thủng và rách nhiều chỗ, dây công tơ mét bị đứt, xe có kèm theo chìa khóa, không kiểm tra máy móc bên trong. Xe cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Văn P.

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lò Văn P và Mùa A T phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/11/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Công an huyện Mường La;
  • - THAHS;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Mường La;
  • - Bị cáo (2);
  • - Người bào chữa (1);
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

(đã ký)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 14/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số quyết định: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Lò Văn Phương và Mùa A Tộng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger