Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025

V/v Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Hường và ông Dương Kim Hồng.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu H, Kiểm sát viên.

Vào hồi 08 giờ 15 phút, ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 46/2025/TLST-HNGĐ, ngày 29/5/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/HNGĐ-ST, ngày 06/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 17/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh ngày 12/6/1982; Số căn cước: [...], cấp ngày 20/5/2025; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Sỹ T; sinh 18/9/1978; Số định danh cá nhân: 042078003987; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Sỹ T kết hôn với nhau vào ngày 13/3/2000, đăng ký tại UBND xã B, huyện L (nay là xã B, huyện T), tỉnh Hà Tĩnh; hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, không bị ai lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh T thường xuyên uống rượu, đánh đập vợ con nên chị L phải bỏ nhà vào miền N sinh sống; vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay, ít khi thông tin và liên lạc với nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Sỹ T.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung: Nguyễn Sỹ Hồng S, sinh ngày 18/9/2000 và Nguyễn Sỹ Quốc C, sinh ngày 13/6/2009. Sau khi ly hôn đối với cháu Hồng S đã đủ tuổi trưởng thành, xây dựng gia đình riêng nên chị L không yêu cầu xem xét giải quyết; còn cháu Quốc C bản thân chị cũng có nguyện vọng nuôi con nhưng từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu ở với bố và trong đơn trình bày nguyện vọng cháu cũng thể hiện mong muốn được tiếp tục ở với anh T nên chị L đồng ý.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo triệu tập anh Nguyễn Sỹ T đến làm việc, hòa giải tại Tòa án nhưng anh T đều không có mặt mặc dù đã nhận được giấy triệu tập hợp lệ. Cán bộ Tòa án đã phối hợp với đại diện chính quyền địa phương xã T, huyện T trực tiếp làm việc với anh T tại nhà. Tại biên bản làm việc ngày 04/6/2025 và ngày 10/6/2025 anh T trình bày: về thời điểm kết hôn, quá trình chung sống, thời điểm ly thân và con chung như chị L trình bày là đúng thực tế; về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do chị L tự ý bỏ nhà ra đi, nay về yêu cầu giải quyết ly hôn thì anh không đồng ý; về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Sỹ Hồng S, sinh ngày 18/9/2000 và Nguyễn Sỹ Quốc C, sinh ngày 13/6/2009. Hiện tại cháu Hồng S đã trưởng thành, có gia đình riêng; còn cháu C đã nghỉ học và đang lao động tại các tỉnh phía Bắc, địa chỉ cụ thể anh không biết; sau khi vợ chồng ly thân, cháu C ở với anh T; nay bản thân cháu C có nguyện vọng ở với bố thì anh T cũng đồng ý. Ngoài ra, anh T thừa nhận đã nhận được thông báo thụ lý, thông báo làm việc của Tòa án nhưng anh không đồng ý đến Tòa làm việc, yêu cầu ly hôn của chị L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Qua xác minh tại chính quyền địa phương được đại diện UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cung cấp: anh Nguyễn Sỹ T là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương; anh T và chị L có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã B, huyện L (nay là xã B, huyện T); vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Sỹ Hồng S, sinh ngày 18/9/2000 và Nguyễn Sỹ Quốc C, sinh ngày 13/6/2009. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh đã lâu, chị L đi khỏi địa phương nhiều năm nay, anh T sống một mình, ít giao tiếp với xóm làng. Quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp không thể hàn gắn được thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 BLTTDS, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ kịp thời các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, cung cấp các thông tin ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không đồng ý đến Tòa án làm việc, không ký vào biên bản làm việc với Tòa án. Các tài liệu có tại hồ sơ cho thấy bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã biết được các nội dung liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không phối hợp trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như tham dự các buổi hòa giải, xét xử giải quyết vụ án nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 96, khoản 4 Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L về việc ly hôn anh Nguyễn Sỹ T.
  • + Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Sỹ Quốc C, sinh ngày 13/6/2009 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành(đủ 18 tuổi). Chị L có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên miễn xem xét.
  • + Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  • + Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã có mặt và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo làm việc, biết được các nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được tống đạt hợp lệ cho bị đơn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nhưng cả hai lần bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Do đó, đủ căn cứ xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Sỹ T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc, đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung được hơn mười năm thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2013 đến nay; theo trình bày của chị L nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh T thường hay rượu chè, đánh đập vợ con nên chị bỏ vào miền N làm ăn và cắt đứt liên lạc từ đó đến nay. Còn anh T thì cho rằng chị L tự ý bỏ nhà ra đi, nay về làm đơn xin ly hôn thì anh T không đồng ý. Xét thực tế mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, sống ly thân từ năm 2013 đến nay, mỗi người có một cuộc sống riêng, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau; mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được; bản thân anh T không đồng ý ly hôn nhưng không có giải pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng, thậm chí không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L về việc xin ly hôn anh Nguyễn Sỹ T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng có hai con chung: Nguyễn Sỹ Hồng S, sinh ngày 18/9/2000 và Nguyễn Sỹ Quốc C, sinh ngày 13/6/2009. Cháu Hồng S đã đủ tuổi trưởng thành, xây dựng gia đình riêng nên miễn xét. Đối với cháu C chưa đủ 18 tuổi nhưng đã nghỉ học làm nghề tự do. Từ khi vợ chồng ly thân cháu C ở với bố và tại đơn trình bày nguyện vọng bản thân cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố. Do đó, cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Sỹ Quốc C cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con anh T không có ý kiến, yêu cầu nên không xem xét.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung: Các đương sự không ai có yêu cầu giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Nguyễn Sỹ T vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 96, khoản 4 Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị L được ly hôn anh Nguyễn Sỹ T.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Sỹ Quốc C, sinh ngày 13/6/2009 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Phan Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.
  3. Về án phí: Chị Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ trong số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số [...], ngày 29/5/2025 của Công ty cổ phần T1.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Nguyễn Sỹ T vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Hà;
  • - UBND xã Bình An, huyện Thạch Hà (nơi ĐKKH để xóa đăng ký kết hôn)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số quyết định: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger