TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày 01/12/2025 “V/v: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Phương.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành; ông Phan Duy Thạch.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú - Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tôn - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 01 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2025/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 "Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXX-ST ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Lệ G, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Lệ G trình bày:
1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Lệ G và anh Nguyễn Hoàng kết H1 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật vào ngày 01/10/2013 tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn và tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, chị G về làm dâu và sinh sống cùng gia đình anh H ở thôn T, xã G, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, đến năm 2021 thì vợ chồng chuyển về Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh).
Về mâu thuẫn vợ chồng: Vợ chồng chị Lê Thị Lệ G và anh Nguyễn Hoàng ban Đ sống hạnh phúc, sau đó do anh H không chịu làm ăn và quan tâm đến gia đình, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Cuối năm 2021 chị G đã gửi đơn ra Toà án để ly hôn với anh H, được Toà án và gia đình giải thích và hoà giải nên chị G đã rút yêu cầu khởi kiện. Sau đó anh H vẫn không thay đổi theo hướng tích cực trong cuộc sống, do vậy vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau. Mặc dù các bên đã hòa giải nhiều lần, nhưng tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn gắn, sống chung với nhau, hai bên đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2025 đến nay. Từ khi sống ly thân vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, nên chị G yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn H.
2. Về con chung: Vợ chồng chị G và anh Nguyễn H có 03 con chung: Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 14/8/2013; Nguyễn Minh H2, sinh ngày 26/7/2015, Nguyễn Lê Tuệ N, sinh ngày 13/8/2022. Khi ly hôn chị G có nguyện vọng xin được trực nuôi dưỡng con chung là: Cháu Bảo C và cháu Tuệ N, anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh H2. Cấp dưỡng nuôi con, trong đơn khởi kiện và trong bản khai ngày 06/11/2025 chị G có đề nghị anh H phải cấp dưỡng 2.500.000 đồng/tháng/02 con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại biên bản hoà giải ngày 12 tháng 11 năm 2025 chị G xin rút yêu cầu này. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung và công nợ: Chị G không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh H vắng mặt tại phiên toà, trong bản khai, bị đơn anh Nguyễn H trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê G, tìm hiểu và kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian tìm hiểu đã tổ chức hôn lễ theo phong tục của địa phương và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 01 tháng 10 năm 2013. Sau khi kết hôn và tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, chị G về làm dâu và sinh sống cùng gia đình anh ở thôn T, xã G, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, đến năm 2021 thì vợ chồng chuyển về Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh).
Về mâu thuẫn vợ chồng: Trong cuộc sống hàng ngày cũng xác định có mâu thuẫn, nhưng anh H cho rằng mâu thuẫn nhỏ, chưa phải ra Toà để ly hôn. Anh H mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con chung, nếu chị G nhất định xin ly hôn với anh thì đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của chị G.
2. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh H, chị G sinh được 03 con chung: Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2013; Nguyễn Minh H2, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2015, Nguyễn Lê Tuệ N, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2022. Nếu phải ly hôn anh H có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu: Nguyễn Minh H2, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2015. Cấp dưỡng nuôi con, anh H không đề nghị Toà án giải quyết.
3. Về tài sản chung và công nợ: Anh H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng các điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Lệ G được ly hôn anh Nguyễn H.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2013; Nguyễn Lê Tuệ N, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2022 cho chị Lệ G trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2015 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con chung, do hai bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Chị G và anh H không đề nghị Toà án giải quyết, do vậy không đề cập giải quyết
Về án phí: Chị Lê Thị Lệ G phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Lệ G khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn H, sinh năm 1994 có địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh nên theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh.
[1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án anh H đã có ý kiến trình bày và đề nghị giải quyết vắng mặt ở tất cả các buổi làm việc, phiên họp và phiên toà xét xử sơ thẩm. Do vậy, Toà án xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Lệ G với anh Nguyễn Hoàng T: Chị Lê Thị Lệ G và anh Nguyễn H được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 01 tháng 10 năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Lệ G và anh Nguyễn H là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống ngay, thời gian ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh với nhau 03 con chung. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H và chị G có sự khác nhau về quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, không quan tâm đến nhau, không có tiếng nói chung nên vợ chồng sống không có hạnh phúc. Vì mâu thuẫn nên cuối năm 2021 chị G đã gửi đơn ra Toà án để ly hôn với anh H, được Toà án và gia đình giải thích và hoà giải nên chị G đã rút yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên khi về đoàn tụ vợ chồng vẫn không cải thiện được tình trạng hôn nhân theo hướng tích cực, vẫn thường xuyên xảy ra va chạm, mâu thuẫn trong cuộc sống. Nay chị G xác định mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ và xin được ly hôn anh H. Anh H xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng chưa trầm trọng, anh đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ, trường hợp nếu chị G nhất định xin ly hôn với anh thì anh đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu của chị G.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh H không đồng ý ly hôn, mong muốn chị G về đoàn tụ, nhưng anh H cũng không có biện pháp đoàn tụ, trong bản khai anh H có ý kiến nếu chị G nhất định xin ly hôn với anh thì anh đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu của chị G được ly hôn với anh. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị G không còn, mẫu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Lê Thị Lệ G được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L phù hợp.
[2.2] Về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh H, chị G sinh được 03 con chung: Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2013; Nguyễn Minh H2, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2015, Nguyễn Lê Tuệ N, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2022. Hiện nay 03 con chung đang sống cùng chị G. Khi ly hôn chị G đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Bảo C và cháu Tuệ N, anh H đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh H2. Với các yêu cầu trên của các đương sự Hội đồng xét xử thấy, yêu cầu và nguyện vọng của chị G, chị T1 phù hợp với hoàn cảnh thực tế cũng như nguyện vọng của con chung. Để thuận tiện trong việc chăm nom con chung, cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho các con chung, căn cứ các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu cháu Bảo C và cháu Tuệ N cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Minh H2 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị G, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G, anh H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và công nợ: Chị G, anh H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Lê Thị Lệ G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật số: 85/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025 và có hiệu lực ngày 01/7/2025.
Căn cứ các điều 51; 56; 57; 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Lê G1.
- - Về hôn nhân: Tuyên xử: Chị Lê Thị Lệ G được ly hôn anh Nguyễn H.
- - Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2013, Nguyễn Lê Tuệ N, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2022 cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung là cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2015 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị G, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G và anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung và công nợ: Chị G và anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị Lệ G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng an phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: BLTU/25E/0002449 ngày 27 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Chị Lê Thị Lệ G đã nộp đủ tiền án phí.
Nguyên đơn chị Lê Thị Lệ G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn anh Nguyễn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Nơi nhận
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Minh Phương |
Quyết định số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số quyết định: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Lệ G ly hôn anh Nguyễn H
