|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 14/2024/QĐST- HNGĐ |
Hà Tĩnh, ngày 20 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Minh Thư
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/4/2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1997; Nơi cư trú hiện nay: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Chị Dương Thị Như Q, sinh năm 1998; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của anh Nguyễn Văn H và đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của chị Dương Thị Như Q trình bày thống nhất như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau vào ngày 21/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, anh H và chị Q chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do sau khi chị Q đi lao động tại Đài Loan, cuộc sống không hòa hợp, không tìm thấy tiếng nói chung nên dẫn đến vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Nay, anh H và chị Q đều tự nhận thấy tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được nên mong muốn được ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q có 01 con chung là Nguyễn Thị Hà V, sinh ngày 21/11/2019. Hiện nay cháu Nguyễn Thị Hà V đang ở với anh H. Anh H và chị Q thống nhất giao con chung cho anh H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Chị Dương Thị Như Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Dương Thị Như Q trình bày do điều kiện công việc không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn nên chị Q xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn đồng thời ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho anh Nguyễn Văn H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 107, 110, 116, 117, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
Chị Dương Thị Như Q hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan có xác nhận của Đ tại Đài Loan, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Dương Thị Như Q có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho anh Nguyễn Văn H; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị Dương Thị Như Q theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 21/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q hạnh phúc cho đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do cuộc sống chung vợ chồng không đồng nhất, không tìm thấy tiếng nói chung nên tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Nay, anh H và chị Q đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, tòa án công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
[2.2] Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q có con chung là Nguyễn Thị Hà V, sinh ngày 21/11/2019, hiện nay chị Dương Thị Như Q đang lao động ở nước ngoài không thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình với con chung. Anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q đã thống nhất giao con chung Nguyễn Thị Hà V cho anh H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Chị Dương Thị Như Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy anh H và chị Q đã tự nguyện, thống nhất với nhau nên cần chấp nhận xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh H và chị Q.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 57, 107, 110, 116, 117, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35, Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Hà V, sinh ngày 21/11/2019 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Chị Dương Thị Như Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời điểm đóng góp từ tháng.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000₫ lệ phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con của anh Nguyễn Văn H. Anh Nguyễn Văn H đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000570 ngày 20/7/2023 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Nguyễn Văn H còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Bùi Minh Thư |
Quyết định số 14/2024/QĐST- HNGĐ ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 14/2024/QĐST- HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Dương Thị Như Q
