Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số: 138/2025/QĐST-DS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thành Thông

2. Ông Thiều Đình Thu

Thư ký phiên tòa: Bà An Phương Trang – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

Căn cứ vào các điều 212, 213, 235 và 246 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 103/DSST ngày 23/01/2024 về “Tranh chấp Hợp đồng ủy quyền”.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn do người đại diện hợp pháp trình bày:

Ông Phạm Đức N và bà Trần Mỹ L là vợ chồng đã ly hôn theo Bản án số 835/2021/HNGĐ-ST ngày 10/6/2021, hiện đang đồng sở hữu 02 căn nhà tại số A và A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV F (số vào sổ CH00430) do Ủy ban nhân dân Quận A, thành phố H cấp ngày 20/10/2014;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV F1 (số vào sổ CH00421) do Ủy ban nhân dân Quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2014.

Ngày 12/6/2018, dựa trên Hợp đồng ủy quyền (số công chứng: 005854, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/6/2018 tại Văn phòng C1) của ông Phạm Đức N, bà Trần Mỹ L đã ký Hợp đồng thuê nhà (số công chứng 00011958, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/6/2018 lập tại Văn phòng C2) cho Công ty Cổ phần T1 (sau đây gọi là “Nhà hàng T1”) thuê 02 căn nhà nêu trên với thời hạn thuê nhà là 10 năm (từ ngày 15/9/2018 đến ngày 14/9/2028). Thời điểm bắt đầu tính tiền thuê nhà là ngày 15/10/2018.

Bà L là người đại diện nhận tiền thuê nhà từ Công ty T1 thông qua tài khoản cá nhân của bà L và có trách nhiệm chuyển lại 50% số tiền cho thuê vào tài khoản cá nhân của ông Phạm Đức N.

Sau một thời gian, bà L tự ý giảm tiền cho thuê nhà với công ty T1 bắt đầu từ thời điểm ngày 15/01/2020, tính đến ngày 28/3/2025 bà L mới chuyển cho ông N tổng số tiền là 6.471.740.305₫ trong tổng số tiền cho thuê nhà đúng ra ông N phải được nhận là 13.313.453.612đ – tức là số tiền cho thuê nhà theo giá (cũ) tại Hợp đồng thuê nhà ngày 12/06/2018, nghĩa là bà L chưa chuyển cho ông N số tiền còn lại là 6.841.713.037₫. Việc bà L tự ý giảm giá tiền thuê nhà là chủ ý của bà L mà không có sự đồng thuận của ông N. Do đó ông N khởi kiện tranh chấp về việc bà L vi phạm Hợp đồng ủy quyền với ông N khi tự ý giảm tiền cho thuê nhà mà không có sự đồng ý của ông N.

Tuy nhiên, sau khi thương lượng thỏa thuận, tại phiên tòa, ông N cũng mong muốn giải quyết sự việc êm đẹp và đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của hai bên, nên đề nghị Tòa án công nhận nội dung các đương sự đã thỏa thuận thống nhất tại Biên bản thỏa thuận ngày 26/3/2025, với các nội dung sau đây:

  1. Các bên thống nhất đồng ý và xác nhận đã thực hiện hoàn tất số tiền thi hành án theo Bản án dân sự phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và đồng ý thực hiện Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 23/12/2022 và Phụ lục hợp đồng số 02 ngày 23/12/2022 được ký kết giữa Công ty Cổ Phần T1 và Bà Trần Mỹ L và Văn bản ngày 23/12/2022 về số tiền cho thuê nhà từ ngày 22/12/2021 đến hết ngày 14/12/2022.

Ông Phạm Đức N không tranh chấp và không yêu cầu Công ty Cổ Phần T1 và bà Trần Mỹ L thực hiện trả thêm bất kỳ khoản nợ nào khác liên quan đến số tiền đã thực hiện thi hành án trên.

Bà L không tranh chấp, không yêu cầu ông N hoàn trả số tiền 1.070.394.867 đồng đã thanh toán cho Cơ quan Thi hành án Ủy nhiệm chi ngày 21/7/2023 của V, Biên lai thu tiền số AA/2023/0011165 ngày 21/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Biên lai thu tiền thi hành án theo đơn yêu cầu sổ AA/2022/0000468 ngày 04/8/2023 cua Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Phạm Đức N, bà Trần Mỹ L và Công ty Cổ Phần T1 đã thực hiện thanh toán xong các khoản tiền liên quan đến Bản án dân sự phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và hợp đồng cho thuê nhà số A và A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đến hết 13/04/2025, không bên nào còn nợ bên nào.

  1. Các bên thống nhất và đồng ý sửa đổi, bổ sung nội dung Hợp đồng thuê nhà số công chứng 00011958 lập ngày 12/6/2018 tại Văn phòng C2 như sau:

    “1.1.Bên A và Bên B mỗi bên sẽ nhận 50% giá trị tiền thuê nhà, nhận thanh toán trực tiếp từ Bên C, kể từ ngày ký kết Văn bản thoả thuận này đến khi hết thời hạn của hợp đồng thuê nhà với phương thức thanh toán các bên thống nhất tiền thuê Ngôi nhà Bên C sẽ chuyển khoản cho Bên A và Bên B theo hai tài khoản dưới đây, chuyển cho mỗi tài khoản 50% giá trị tiền thuê:

    • - Tài khoản 1:
    • Chủ tài khoản: TRẦN MỸ LINH
    • Số tài khoản: 10220002188071
    • Tại Ngân hàng: T2 – Chi nhánh N1
    • - Tài khoản 2:
    • Chủ tài khoản: PHẠM ĐỨC NGUYÊN
    • Số tài khoản: 106004294905
    • Tại Ngân hàng: Ngân hàng TMCP C3 (V).

    1.2.Bên A và Bên B mỗi Bên nhận 50% tiền đặt cọc, đồng nghĩa, Bên B sẽ chuyển cho Bên A số tiền là 457.000.000VNĐ (Bốn trăm năm mươi bảy triệu đồng) ngay sau khi các bên ký kết Văn bản thoả thuận này.”

  2. Ông Phạm Đức N và bà Trần Mỹ L đồng ý chấm dứt Hợp đồng ủy quyền số 005854 lập tại Văn phòng C1, thành phố Hồ Chí Minh ngày 06/6/2018, kể từ ngày 28/03/2025.

Bị đơn do người đại diện hợp pháp trình bày:

Trước phiên tòa sơ thẩm, bị đơn đã rút toàn bộ yêu cầu phản tố về yêu cầu ông Phạm Đức N trả lại cho bà L số tiền 1.070.394.867 đồng do bà L phải thi hành Bản án phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 theo yêu cầu thi hành án của ông N.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên việc rút toàn bộ yêu cầu tại Đơn phản tố ngày 05/4/2024 về khoản tiền bà L đã nộp vào Cơ quan Thi hành án theo các chứng từ, gồm: Ủy nhiệm chi ngày 21/7/2023 của V, Biên lai thu tiền số AA/2023/0011165 ngày 21/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Biên lai thu tiền thi hành án theo đơn yêu cầu số AA/2022/0000468 ngày 04/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Về số tiền cho thuê nhà mà bà L đã chuyển cho ông N, bà L khẳng định đã chuyển đầy đủ, đúng hạn các khoản tiền mà ông N được hưởng theo thỏa thuận và theo Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên, đến hết kỳ cho thuê tháng 3/2025 là đến hết ngày 13/04/2025 (kỳ cho thuê tiếp theo là 14/04/2025), bà L đã chuyển cho ông N tổng cộng số tiền là 6.476.096.305₫. Do đó, bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N về việc yêu cầu bà L thanh toán thêm số tiền 6.841.713.037₫.

Đối với đề nghị thỏa thuận mà phía nguyên đơn nêu, giữa ông N và bà L cũng có sự thỏa thuận, nhưng phía bà L chỉ đồng ý các phần sau:

  • Đồng ý với việc ông Phạm Đức N không tranh chấp và không yêu cầu Công ty Cổ Phần T1 và bà Trần Mỹ L thực hiện trả thêm bất kỳ khoản nợ nào khác liên quan đến số tiền đã thực hiện thi hành án trên theo Bản án dân sự phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 23/12/2022 và Phụ lục hợp đồng số 02 ngày 23/12/2022 được ký kết giữa Công ty Cổ Phần T1 và Bà Trần Mỹ L và Văn bản ngày 23/12/2022 về số tiền cho thuê nhà từ ngày 22/12/2021 đến hết ngày 14/12/2022.
  • Ông Phạm Đức N, bà Trần Mỹ L và Công ty Cổ Phần T1 đã thực hiện thanh toán xong các khoản tiền cho thuê nhà số A và A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đến hết ngày 13/4/2025.
  • Đồng ý sửa đổi Hợp đồng thuê nhà và Phụ lục hợp đồng theo hướng: Ông N được trực tiếp nhận tiền thuê nhà và tiền thuế hàng tháng và công ty T1 có trách nhiệm thanh toán 50% giá trị tiền thuê và tiền thuế theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng vào tài khoản ngân hàng do ông N cung cấp và ông N có trách nhiệm chịu và tự thực hiện các thủ tục kê khai và nộp thuế liên quan đến khoản thu tiền nhà mà ông N được nhận. Công ty T1 chuyển 50% giá trị hợp đồng thuê hàng tháng cho bà L vào tài khoản cá nhân của bà Trần Mỹ L: Số tài khoản: 00912621001 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 – chi nhánh P (T4). Ông Phạm Đức N và bà Trần Mỹ L mỗi người chịu 50% lệ phí môn bài của từng kỳ phát sinh.
  • Riêng đối với số tiền đặt cọc cho Hợp đồng thuê nhà mà Công ty T1 đã giao và bà L đã nhận trước đây, bị đơn không đồng ý chuyển giao lại 50% số tiền đặt cọc này cho ông N theo đề nghị của ông N vì số tiền này bà L đã nhận và chi tiêu vào mục đích sử dụng cho gia đình trong thời gian còn tồn tại hôn nhân với ông N. Để có thể thỏa thuận về số tiền đặt cọc này thì bà L chỉ đồng ý khi bà L vẫn tiếp tục giữ (đủ) số tiền này và số tiền đặt cọc này sẽ được các bên ngồi lại giải quyết khi tất toán, thanh lý hợp đồng với Công ty T1.

Công ty Cổ phần T1 do người đại diện hợp pháp trình bày:

Công ty T1 đồng ý với thỏa thuận của các bên, đồng ý rằng các bên đã thực hiện hoàn tất số tiền thi hành án theo Bản án dân sự phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh khi các bên thoả thuận thành. Đề nghị Tòa án ghi nhận cụ thể về nghĩa vụ ông N phải thực hiện liên quan đến việc đóng thuế trên số tiền thuê nhà ông N được nhận để tránh ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ Công ty T1 trong quá trình kinh doanh.

Đối với số tiền đặt cọc của Công ty T1 đã giao cho bà L thì Công ty T1 có ý kiến: số tiền đặt cọc này sẽ được tính toán lại và hoàn trả cho Công ty T1 khi tất toán và thanh lý Hợp đồng.

Người đại diện của nguyên đơn có ý kiến bổ sung:

Đối với số tiền đặt cọc bà L đã nhận, ông N không đồng ý với ý kiến bà L cho rằng đã chi tiêu cho gia đình, vì đây là số tiền của Công ty T1 giao cho bà L tạm giữ để đảm bảo thực hiện hợp đồng thuê nhà và có trách nhiệm tính toán lại và hoàn trả khi Công ty T1 thanh lý hợp đồng.

Nay bà L không muốn giao cho ông N quản lý 50% số tiền đặt cọc này theo quyền lợi, trách nhiệm mỗi bên thì ông N đồng ý, không yêu cầu bà L phải chuyển lại 50% cho ông N, nhưng yêu cầu bà L phải hoàn toàn chịu trách nhiệm giải quyết hoàn trả cho Công ty T1 khi thanh lý hợp đồng.

Người đại diện của bị đơn đồng ý với ý kiến bổ sung của nguyên đơn và đưa ra đề nghị bổ sung thêm:

trường hợp ông N hoặc bà L – nếu bên nào có lỗi dẫn đến việc phải bồi thường hợp đồng cho thuê nhà với Công ty T1 thì bên đó (ông N hoặc bà L) phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với khoản tiền bồi thường này.

Người đại diện của Công ty T1 đồng ý với ý kiến của bà L và ông N.

Ý kiến sau cùng:

Tất cả các bên đương sự cùng đồng ý với các yêu cầu, đề nghị được các bên đưa ra và cùng thống nhất về tiền tạm ứng án phí, án phí và chi phí tố tụng (chi phí ủy thác tư pháp) giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về toàn bộ cách giải quyết vụ án, đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Xét thấy các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về toàn bộ cách giải quyết vụ án, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng đề nghị chấp nhận các thỏa thuận của các đương sự, căn cứ Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 147, điểm c Khoản 1 Điều 217, Điều 246, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

I. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Đức N, sinh năm 1973

CCCD số: [...]

Địa chỉ thường trú: 132 khu phố M, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp (theo Giấy ủy quyền ngày 07/11/2023 số công chứng 003569 quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C4): Ông Nguyễn Hoàng Mạnh S; Địa chỉ: số I P (Tầng C) phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

1. Bà Trần Mỹ L, sinh năm 1973

CCCD số: [...]; Hộ chiếu số C7314182 cấp ngày 13/05/2019

Địa chỉ: C F, I, CA.92614, U. (Hoa Kỳ)

Người đại diện hợp pháp (theo Giấy ủy quyền ngày 05/4/2024 tại Đại Hoa Kỳ): Bà Hoàng Lam Thụy C; Địa chỉ: Phòng B Lầu B, Tòa nhà V - 68 N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Mỹ L: Ông Lê Thanh S1 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N.

2. Công Ty Cổ Phần T1

Mã số doanh nghiệp: 0311542661 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp, đăng ký lần đầu ngày 15/02/2012.

Địa chỉ trụ sở chính: 1 N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Thảo T

Người đại diện hợp pháp (Giấy ủy quyền ngày 18/03/2024 của bà Lê Thị Thảo T): Ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1959; Địa chỉ: 5 N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

II. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

  1. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Trần Mỹ L về việc yêu cầu ông Phạm Đức N trả lại cho bà L số tiền 1.070.394.867 đồng do bà L đã nộp Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để thi hành Bản án phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, do bà L rút yêu cầu.
  2. 2.1. Ông Phạm Đức N, bà Trần Mỹ L và Công ty Cổ Phần T1 đồng ý rằng các bên đã thực hiện hoàn tất số tiền thi hành án theo Bản án dân sự phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và đã thực hiện xong các Điều khoản của Hợp đồng thuê nhà (ngày 12/6/2018 số công chứng 00011958, quyển số 01 TP/CC SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C2) và Phụ lục Hợp đồng số 01 ngày 23/12/2022 và Phụ lục Hợp đồng số 2 ngày 23/12/2022, Hợp đồng ủy quyền (ngày 06/06/2018 số công chứng: 005854, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1) về giá trị cho thuê nhà và phương thức thanh toán, người nhận thanh toán đến ngày 13/4/2025.

    Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về tranh chấp liên quan đến các khoản thanh toán theo Hợp đồng cho thuê, Phụ lục Hợp đồng nêu trên tính đến ngày 13/04/2025 và việc thi hành các bản án Bản án dân sự sơ thẩm số 1271/2021/DS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án dân sự phúc thẩm số 510/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    2.2. Hợp đồng ủy quyền ngày 06/6/2018 số công chứng: 005854, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 giữa ông Phạm Đức N và bà Trần Mỹ L được các bên thống nhất chấm dứt hiệu lực từ ngày 02/4/2025.

    2.3. Hợp đồng thuê nhà số công chứng 00011958 lập ngày 12/6/2018 tại Văn phòng C2 được sửa đổi, bổ sung Điều 5, như sau:

    Ông Phạm Đức N cùng với bà Trần Mỹ L, mỗi người được nhận 50% giá trị của Hợp đồng, được Bên thuê nhà –Công Ty Cổ Phần T1 thanh toán trực tiếp vào tài khoản ngân hàng cá nhân của ông Phạm Đức N, bà Trần Mỹ L, theo số tài khoản sau:

    • Chủ tài khoản: TRẦN MỸ LINH Số tài khoản: 00912621001 Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 – chi nhánh P (T4).
    • Chủ tài khoản: PHẠM ĐỨC NGUYÊN Số tài khoản: 106004294905 Tại Ngân hàng: Ngân hàng TMCP C3 (V).

    Ông Phạm Đức N và bà Trần Mỹ L tự chịu trách nhiệm kê khai và nộp thuế trên thu nhập cho thuê của từng cá nhân được Bên thuê chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của mỗi người. Ông Phạm Đức N và bà Trần Mỹ L mỗi người chịu 50% lệ phí môn bài của từng kỳ phát sinh.

    2.4. Bà Trần Mỹ L được tạm giữ toàn bộ số tiền 914.000.000đ (chín trăm mười bốn triệu đồng) mà Công ty Cổ Phần T1 đã đặt cọc nhằm đảm bảo thực hiện Hợp đồng thuê nhà nêu trên, đồng thời bà L chịu trách nhiệm giải quyết đối với việc khấu trừ và hoàn trả tiền đặt cọc của Công ty Cổ Phần T1 khi chấm dứt và thanh lý Hợp đồng cho thuê nhà, loại trừ việc khấu trừ tiền đặt cọc vào việc trả tiền thuê nhà những tháng cuối.

    Trường hợp ông N hoặc bà L – nếu bên nào có lỗi dẫn đến việc phải bồi thường hợp đồng cho thuê nhà với Công ty T1 thì bên đó (ông N hoặc bà L) phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với khoản tiền bồi thường này.

II. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng.

Các chi phí tố tụng phía nguyên đơn chịu và đã nộp đủ.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Đức N tự nguyện chịu toàn bộ án phí là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) và nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền, được trừ vào tạm ứng án phí ông N đã nộp theo Biên lai thu số 0031721 Ngày 22/01/20254 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phạm Đức N được nhận lại số tiền 57.131.743đ (năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi mốt ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng) tạm ứng án phí còn lại theo Biên lai thu số 0031721 ngày 22/01/20254 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

H1 lại tạm ứng án phí 22.056.000đ (hai mươi hai triệu không trăm năm mươi sáu ngàn đồng) cho bà Trần Mỹ L theo Biên lai thu số 0005606 ngày 25/07/2024 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

III. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

IV. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 138/2025/QĐST-DS ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng ủy quyền

  • Số quyết định: 138/2025/QĐST-DS
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng ủy quyền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông N và bà L là vợ chồng đã ly hôn nhưng dựa trên Hợp đồ uỷ quyền của ông N, bà L đã ký hợp đồng thuê nhà với thời hạn là 10 năm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger