TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1369/2025/HNGĐ - ST Ngày: 30 - 5 - 2025 V/v: “ Tranh chấp ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Văn Tâm
- 2. Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 393/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3507/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4252/2025/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Trúc A, sinh năm 1992
Địa chỉ: 2 đường V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin xử vắng mặt
Bị đơn: Ông Nguyễn Lâm Trọng H1, sinh năm: 1992. Vắng mặt không có lý do.
Địa chỉ: 5 đường số C, Tổ B, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - bà Bùi Trúc A trình bày:
Bà và ông Nguyễn Lâm Trọng H1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 198/2017 do Ủy ban nhân dân phường P Hòa cấp.
Sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc mà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung luôn ngột ngạt. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, bà A cảm thấy suy sụp tinh thần với cuộc sống hôn nhân hiện tại, nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2024 đến nay. Nay bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Lâm Trọng H1.
Về con chung: Có 1 con chung tên Nguyễn Lâm Nhật H2, sinh ngày 29/02/2020. Hiện trẻ H2 đang do bà A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn – ông Nguyễn Lâm Trọng H1 đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 không gửi văn bản trình bày ý kiến để Tòa án xem xét.
Bà A có đơn đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng quy định của pháp luật. Việc cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Trúc A, giao con chung tên Nguyễn Lâm Nhật H2, sinh ngày 29/02/2020, cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Lâm Trọng H1 không cấp dưỡng nuôi con.
Bà Bùi Trúc A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Bùi Trúc A yêu cầu được ly hôn với ông H1, ông H1 hiện cư trú tại thành phố T, nên đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Trúc A có đơn đề nghị vắng mặt khi Tòa án xét xử. Ông Nguyễn Lâm Trọng H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H1, bà A là đúng quy định pháp luật.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[3.1] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 198/2017 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T cấp cho ông Nguyễn Lâm Trọng H1 và bà Bùi Trúc A thì quan hệ hôn nhân giữa ông H1 và bà A là hợp pháp.
[3.2] Quá trình chung sống giữa ông H1 và bà A phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp trong tính cách, quan điểm sống khác nhau nên hai bên đã sống ly thân từ giữa năm 2024 đến nay. Thời gian ly thân cả hai không có giải pháp gì để hàn gắn tình cảm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên có cơ hội giải quyết mâu thuẫn, vợ chồng đoàn tụ nhưng ông H1 vắng mặt không có lý do, không có thiện chí mong muốn vợ chồng hàn gắn. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông H1 và bà A là trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà A yêu cầu được ly hôn với ông H1 là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung:
[4.1] Căn cứ trích lục khai sinh số 171 ngày 13/3/2020 (giấy khai sinh số 98, quyển số 13/3/2020) do Ủy ban nhân dân phường T, quận T cấp có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Lâm Nhật H2, sinh ngày 29/02/2020 là con chung của bà Bùi Trúc A và ông Nguyễn Lâm Trọng H1.
[4.2] Bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét, hiện trẻ H2 đang do bà A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Lâm Trọng H1 vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề hôn nhân, con chung để Tòa án có cơ sở xem xét giải quyết. Do vậy để đảm bảo sự ổn định về tâm sinh lý, tình cảm cũng như thuận tiện trong việc học hành, sinh hoạt thường ngày thì cần tiếp tục giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà A. Bà A không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Đương sự khai không có.
[6] Về nợ chung: Đương sự khai không có.
[7] Xét, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Trúc A
- Về hôn nhân: Cho bà Bùi Trúc A được ly hôn với ông Nguyễn Lâm Trọng H1.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lâm Nhật H2, sinh ngày 29/02/2020 cho bà Bùi Trúc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông Nguyễn Lâm Trọng H3 cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Các đương sự khai không có.
- Về nợ chung: Đương sự khai không có.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Bùi Trúc A chịu, nhưng được trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí mà bà A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0081830 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Trúc A đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014).
- Ông Nguyễn Lâm Trọng H1 và bà Bùi Trúc A vắng mặt tại phiên toà được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Nhung |
Quyết định số 1369/2025/HNGĐ - ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số quyết định: 1369/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: công nhận
