|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Quyết định số: 136/2025/QĐ-TA Ngày: 12/02/2025. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa chủ trì phiên họp: Bà Tăng Thị Nguyệt.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 114/2025/QĐ-TA ngày 06 tháng 02 năm 2025, theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý Thanh Thiếu Niên 2 đối với:
Họ và tên: Bùi Văn T, sinh ngày: 22/3/1997; Tên gọi khác: không có; Số CMND/CCCD/Định danh cá nhân: [...]; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nguyên quán: Cà Mau; Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Tiền án; Tiền sự: Không; Con ông Bùi Văn K và bà Quách Thị H; Bị đưa vào Cơ sở Cai nghiện ma tuý Thanh Thiếu N 2 từ ngày 05/12/2024.
Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đoàn Nhị S – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, TP ..
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 01/12/2024, Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập Biên bản vi phạm hành chính về an ninh trật trự với anh Bùi Văn T và tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Bùi Văn T. Tại kết quả xác minh của Công an xã P, huyện P, tỉn Cà Mau: “Công dân đã vắng mặt khỏi địa phương khoảng 06 tháng nay, không rõ đi đâu, làm gì”. Tại kết quả xác minh của Công an phường L, thành phố T: “Công dân trên không đăng ký tạm trú, không thực tế cư trú tại địa chỉ: P, nhà trọ không số, đường L, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính ngày 01/12/2024 của Công an phường L, thành phố T và kết quả xác minh thông tin nơi cư trú thể hiện anh Bùi Văn T là người có sử dụng chất ma tuý, không có nơi cư trú ổn định; Căn cứ vào Biên bản làm việc ngày 03/12/2024, anh Bùi Văn T không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên công an phường L lập hồ sơ đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L quyết định đưa anh Bùi Văn T vào Cơ sở Cai nghiện ma túy T1, Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 03/12/2024 của Trạm Y tế phường L đã kết luận anh Bùi Văn T nghiện ma túy loại Đá (M).
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành lập hồ sơ và ra Quyết định số 727/QĐ-UBND ngày 05/12/2024 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ra Thông báo số 20/TB-UBND ngày 24/01/2025 báo cho anh Bùi Văn T về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 24/01/2025, Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T ra văn bản số 4/ĐN-UBND đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T.
Tại văn bản số 91/ĐN-CNBB ngày 05/02/2025, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức xem xét đưa anh Bùi Văn T vào cai nghiện ma tuý tại Cơ sở Cai nghiện ma túy P (địa chỉ: xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước) với thời gian từ 15 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày việc lập hồ sơ đề nghị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh Bùi Văn T vào Cơ sở Cai nghiện ma tuý P cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 15 tháng đến 24 tháng là cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Người bị đề nghị anh Bùi Văn T xác nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và không có nơi cư trú ổn định. Anh Bùi Văn T đồng ý đi cai nghiện ma túy theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, anh đề nghị Tòa án xem xét giảm thời hạn cai nghiện cho anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến, nhận định quá trình lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Bùi Văn T đã được các cơ quan tiến hành đúng quy định pháp luật.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp có cơ sở xác định:
Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính số 0033146/BB-VPHC ngày 01/12/2024 của Công an phường L, thành phố T về lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội và Biên bản vi phạm số 12/BB-VPHC ngày 05/12/2024 về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với anh Bùi Văn T. Phiếu xác minh thông tin về nơi cư trú của Công an xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau và Công an phường T cho thấy anh Bùi Văn T là người sử dụng trái phép chất ma túy không có nơi cư trú ổn định. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ngày 03/12/2024 của Trạm Y tế phường L, thành phố T đã kết luận anh Bùi Văn T dương tính với chất ma túy trong cơ thể.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T lập hồ sơ đề nghị Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức quyết định đưa anh Bùi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục theo điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với anh Bùi Văn T còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 27, 28, 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 96; điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 và các Điều 33, 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên có đủ cơ sở kết luận anh Bùi Văn T là người đã thành niên, sử dụng trái phép chất ma tuý không có nơi cư trú ổn định. Do đó, anh Bùi Văn T là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 và khoản 4 Điều 1 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Xét ý kiến của đại diện của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Bùi Văn T với thời gian từ 15 tháng đến 24 tháng, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy P là có căn cứ và đúng quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Ma tuý là chất gây nghiện đã được Nhà nước quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý. Việc sử dụng ma tuý là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Anh Bùi Văn T là người nghiện ma tuý, không có nơi cư trú ổn định hiện nay đang nghiện chất ma tuý.
Do đó, cần thiết phải đưa anh Bùi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm giúp đỡ, tạo điều kiện để anh Bùi Văn T cai nghiện ma tuý, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm giáo dục, phòng ngừa, hạn chế các tội phạm và tệ nạn xã hội phát sinh để đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ điểm Điều 2, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi bổ sung năm 2020);
Căn cứ Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 của Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Bùi Văn T tại Cơ sở Cai nghiện ma túy P (xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước).
- Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 17 (mười bảy) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Anh Bùi Văn T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.
- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Cơ quan thi hành quyết định: Anh Bùi Văn T, Công an thành phố T, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, Cơ sở Cai nghiện ma túy T1 và Cơ sở Cai nghiện ma túy P có trách nhiệm thi hành quyết định này.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Tăng Thị Nguyệt |
Quyết định số 136/2025/QĐ-TA ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Số quyết định: 136/2025/QĐ-TA
- Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: dua di cai nghien
