Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 133/2024/QĐPT-HNGĐ

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

PHÚC THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Thu Hà

Các Thẩm phán:

  1. Ông Hoàng Bích Sơn
  2. Ông Phạm Công Toại

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Xuân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Đào Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp phúc thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 62/2024/TLPT-DS ngày 12/6/2024 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.

Do Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 187/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 5096/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 06/9/2024 và Quyết định hoãn phiên họp số 14235/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 24/9/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • Người yêu cầu: Ông Đoàn Ngọc H, sinh năm:1963 (có mặt);

    Địa chỉ: 1 V, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Văn T, sinh năm 1989 (có mặt) hoặc ông Hà Văn H1, sinh năm 1992 (có mặt);

    Cùng địa chỉ: D T, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
    1. Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1947 (vắng mặt);

      Địa chỉ: 8 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Ông Đoàn Ngọc X, sinh năm 1964 (có mặt);

      Địa chỉ: 8 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: 1 V, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Bà Đoàn Thị Kim S, sinh năm 1962 (có mặt);

      Địa chỉ: 8 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: 7 Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    4. Ông Đoàn Ngọc M, sinh năm 1969 (vắng mặt);

      Địa chỉ: D P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    5. Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1951 (vắng mặt);
    6. Bà Đoàn Kim H5, sinh năm 1967 (vắng mặt);
    7. Bà Đoàn Thị Kim B, sinh năm 1968 (vắng mặt);

      Cùng địa chỉ: 2 P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Bà Đ1, bà H5, bà B cùng ủy quyền cho ông Bùi Quốc T1, sinh năm 1970; địa chỉ: A N, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 5688, quyển số 3/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/4/2023 tại Văn phòng C)

  • Người kháng cáo: Ông Đoàn Ngọc H – Người yêu cầu.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Người yêu cầu ông Đoàn Ngọc H trình bày:

Ông Đoàn Ngọc H2 là ông nội của ông. Khi còn sống, ông H2 chung sống với 03 người vợ và có các con, cháu lần lượt gồm:

Vợ thứ nhất: Bà Phạm Thị D (chết không có giấy chứng tử) có 01 người con tên Đoàn Đình N (sinh năm 1944). Ông N chung sống với bà Vũ Thị Đ (không đăng ký kết hôn), có 04 người con là ông H, ông Đoàn Kim S, Đoàn Ngọc X và Đoàn Ngọc T2 (chết năm 1982). Năm 1967, ông Đoàn Đình N bị bắt đi lính. Ngày 24/6/1968, ông N chết và được đưa về chôn cất tại Nghĩa trang Q, Đồng Nai nay là nghĩa trang A, Thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Vợ thứ hai: Bà Trần Thị Đ1 (chung sống từ năm 1966), có 02 người con chung là Đoàn Thị Kim B, Đoàn Kim H5.

Vợ thứ ba: Bà Trần Thị H3 (chung sống từ năm 1969, không đăng ký kết hôn), có một con chung là Đoàn Ngọc M.

Năm 2005, ông Đoàn Ngọc H2 chết.

Như vậy, ông H là con ruột của ông N, ông N là con ruột của ông H2. Do chiến tranh nên các giấy tờ nhân thân của ông N đều bị thất lạc nên ông không có giấy tờ để chứng minh mối quan hệ cha con giữa ông Đoàn Ngọc H2 và ông Đoàn Đình N.

Thực tế trước và sau khi ông N chết thì vợ và các con ông N vẫn sống chung với ông H2. Để chứng minh mối quan hệ trên, ông đã thực hiện giám định ADN với con ruột ông H2 là ông Đoàn Ngọc M tại Công ty cổ phần D1 và có kết luận: Ông Đoàn Ngọc H và ông Đoàn Ngọc M có mối quan hệ huyết thống theo dòng dõi nội (nhiễm sắc thể Y).

Nay do ông N đã chết nên ông H đề nghị Tòa án xác định ông Đoàn Đình N là con ruột của ông Đoàn Ngọc H2.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Đ trình bày:

Bà và ông N chung sống năm 1960, không đăng ký kết hôn. Bà và ông N có 04 người con là Đoàn Ngọc H, Đoàn Thị Kim S, Đoàn Ngọc X và Đoàn Ngọc T2 (chết năm 1982). Sau khi cưới, vợ chồng bà ở cùng với ông H2. Do gia đình có một mình ông N, sợ đi lính nên ông N thường xuyên trốn quân dịch, không làm giấy tờ tùy thân. Năm 1967, ông N bị bắt đi lính chế độ cũ. Năm 1968, ông N chết. Sau khi ông N chết thì bà và các con vẫn ở chung với ông H2, đến năm 1972 thì ông H2 ở riêng, bà và các con cũng ở gần đó.

Đến năm 1966, ông H2 chung sống với bà Đ1 và có 02 con chung là Đoàn Thị Kim B, Đoàn Kim H5. Sau đó, ông H2 chung sống với bà Trần Thị H3 và sinh ra ông Đoàn Ngọc M. Đến năm 2005 thì ông H2 chết do bệnh già. Hàng năm, bà và các con vẫn đến dự đám giỗ ông H2, chỉ có cách đây 02 năm là không đến nữa do gia đình bà và gia đình bà Đ1 có mâu thuẫn. Nay ông H yêu cầu Tòa án xác định ông Đoàn Đình N là con ruột của ông Đoàn Ngọc H2 thì bà đồng ý, không có ý kiến tranh chấp gì.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Ngọc M trình bày:

Ông là con của ông Đoàn Ngọc H2 và bà Trần Thị H3.

Tại Bản tự khai ngày 14/3/2023, ông có lời khai thống nhất với lời trình bày của ông H, bà Đ, ông Xã và bà S; ông đồng ý với yêu cầu của ông H.

Tại bản tự khai ngày 18/4/2023, ông M rút lại ý kiến của mình tại bản tự khai ngày 14/3/2023, ông không biết mối quan hệ cha con giữa ông N và ông H2, ông đề nghị ông H cung cấp chứng cứ chứng minh ông N là con ông H2.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2023 tại Tòa án quận T, ông M xác định ông không biết việc ông Đoàn Đình N có phải là con của ông H2 hay không và ông khẳng định lời khai ngày 18/4/2023 mà ông đã nộp là đúng.

Tại bản tự khai không ghi ngày tháng năm của ông M (nộp sau ngày 18/4/2023) thì ông M thay đổi lời khai, xác định toàn bộ lời khai ngày 18/4/2023 là sai sự thật; đồng thời thống nhất ý kiến với yêu cầu của ông H.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Kim S và ông Đoàn Ngọc X trình bày: Bà S và ông Xã là con của ông N và bà Đ, các ông, bà thống nhất với lời khai và yêu cầu của ông Đoàn Ngọc H.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ1, bà Đoàn Kim H5 và Đoàn Thị Kim B do ông Bùi Quốc T1 đại diện trình bày:

Bà Trần Thị Đ1 chung sống với ông Đoàn Ngọc H2 vào năm 1966, không đăng ký kết hôn. Ông H2 và bà Đ1 có hai con chung là Đoàn Kim H5 và Đoàn Thị Kim B. Năm 2005 ông H2 chết.

Nay ông Đoàn Ngọc H yêu cầu Tòa án xác định ông Đoàn Đình N là con của ông Đoàn Ngọc H2 thì bà Đ1, bà H5, bà B không có ý kiến, chỉ đề nghị ông H cung cấp các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.

Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 187/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Đoàn Ngọc H.

Ngoài ra, quyết định sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 02/4/2024, người yêu cầu ông Đoàn Ngọc H có đơn kháng cáo toàn bộ quyết định sơ thẩm.

Tại phiên họp phúc thẩm:

Ông Chu Văn T là người đại diện theo ủy quyền của ông H trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Ngọc H, xác định ông Đoàn Đình N là con của ông Đoàn Ngọc H2.

Bà Đoàn Thị Kim S và ông Đoàn Ngọc X thống nhất với yêu cầu, ý kiến của ông H.

Ông Bùi Quốc T1 là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đ1, bà H5 và bà B đề nghị giữ nguyên quyết định sơ thẩm do lời trình bày của người làm chứng, người yêu cầu không có cơ sở pháp lý, yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông H.

Ngoài ra, tại phiên họp có sự tham gia của người làm chứng bà Nguyễn Thị N1 và ông Trần Văn T3, theo đó, bà N1 khai là hàng xóm, sống kế bên nhà của ông H2 tại số H T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, bà biết rõ ông N là con của ông H2, khi còn sống, ông N sống cùng ông H2 tại đây. Ông T3 khai, ông là anh em cột chèo với ông H2 (ông là chồng của bà Trần Thị Đ2 – em ruột của bà Trần Thị Đ1) nên ông biết ông N là con của ông H2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Kháng cáo của ông H nộp trong thời hạn nên được xem xét theo khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 323/2022 ngày 07/11/2022 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Đoàn Ngọc H là con ruột của ông Đoàn Đình N và bà Vũ Thị Đ. Ông Đoàn Ngọc H có yêu cầu Tòa án xác định ông Đoàn Đình N (chết 1968) là con của ông Đoàn Ngọc H2 (chết 2005 theo giấy chứng tử số 21/2005 quyển số 01 ngày 02/5/2005). Căn cứ Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì yêu cầu của ông H thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Căn cứ vào giấy đề nghị phân tích ADN số: HID22 S15516 của ông Đoàn Ngọc H. Ngày 16/9/2022 Công ty cổ phần D1 - Chi nhánh phía Nam có Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ2200733 thì ông Đoàn Ngọc M và ông Đoàn Ngọc H có quan hệ huyết thống theo dòng nội (nhiễm sắc thể Y). Tại Công văn số 06/CV-Gentis HCM ngày 13/7/2023 của Công ty cổ phần D1 - Chi nhánh phía Nam thể hiện “Trung tâm sẽ không kết luận mối quan hệ cha và con giữa ông Đoàn Ngọc H2 và ông Đoàn Đình N thông qua xét nghiệm giữa con ruột ông H2 (ông M) và con ruột ông N (ông H)".

Ngày 18/10/2023 Tòa án nhân dân quận Tân Phú có Quyết định trưng cầu giám định số 1194/2023/GĐ-TCGĐ. Ngày 17/11/2023 Trung tâm P - Sở Y tế Thành phố H có kết quả giám định ADN số 1.314-2023/KLGĐADN-TTPY và Công văn số 21/TTPY.GT-23 ngày 29/12/2023 thì Trung tâm “thực hiện giám định ADN trên mẫu thu trực tiếp từ ông Đoàn Ngọc H và ông Đoàn Ngọc M, không có cơ sở để xác định mối quan hệ huyết thống cha - con giữa ông Đoàn Ngọc H2 (đã mất) và Đoàn Đình N (đã mất)".

Căn cứ Giấy chứng nhận nhân khẩu thường trú, bản khai nhân khẩu ngày 23/9/1976 của ông Đoàn Ngọc H2 thì tại mục những người thân thuộc trong gia đình, ông H2 khai nhân thân của ông H2 như sau: Có cha nuôi là ông Đoàn Ngọc H4 (chết), mẹ nuôi là bà Bùi Thị M1 (chết), vợ chánh là bà Trần Thị Đ1, có các con ruột là bà Đoàn Thị Kim H5, bà Đoàn Thị Kim B và ông Đoàn Ngọc M. Ông H2 không khai mối quan hệ với ông Đoàn Đình N.

Xét lời khai của ông M tại bản tự khai ngày 14/3/2023, 18/4/2023, biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2023 và bản tự khai không ghi ngày tháng năm (nộp sau ngày 18/4/2023) thì ý kiến của ông M không thống nhất nhau. Mặt khác, ông N chết năm 1968 nhưng đến năm 1969 ông M mới sinh nên việc ông M không biết chính xác mối quan hệ huyết thống cha con giữa ông N và ông H2 là có cơ sở.

Xét lời khai của những người làm chứng là bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn S1 thể hiện: Khi còn sống, ông Đoàn Ngọc H2 sống cùng với ông Đoàn Đình N tại địa chỉ 8 T, phường P, quận T. Tuy nhiên, qua các kết quả xác minh tại Công an quận T đều thể hiện kết quả: “Hồ sơ lưu trữ tại tàng thư Công an Quận không có thông tin công dân Đoàn Đình N, sinh năm 1944 đăng ký thường trú tại địa chỉ 8 T, phường P, quận T”. Trong bản khai nhân khẩu của ông H2 cũng không thể hiện đã từng sống tại địa chỉ 8 T, phường P, quận T.

Về lời khai của người làm chứng ông Trần Văn T3 thể hiện: Năm 1984, ông T3 chung sống với bà Trần Thị Đ2 (là em ruột của bà Trần Thị Đ1) nên ông T3 biết ông N là con ruột ông H2. Bà Đ2 có bản khai thể hiện: Lời khai của T3 là không đúng. Xét thấy, ông T3 sinh năm 1959, ông N chết năm 1968, do đó, khi ông N chết thì ông T3 mới 9 tuổi và ông T3 cũng chưa chung sống với bà Đ2 nên việc ông T3 cho rằng ông biết ông N là con ruột của ông H2 là không có cơ sở xem xét.

Từ những lập luận này, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Ngọc H, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Quyết định sơ thẩm số 187/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2024 về việc giải quyết việc dân sự yêu cầu xác định cha mẹ cho con của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng phúc thẩm nhận định:

[1] Việc kháng cáo và thực hiện thủ tục phúc thẩm được đương sự thực hiện trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết.

[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Đoàn Ngọc H – Người yêu cầu:

Theo lời khai của các ông, bà Đoàn Ngọc H, Vũ Thị Đ, Đoàn Thị Kim S và Đoàn Ngọc X thì ông Đoàn Ngọc N2 sinh năm 1944, chết năm 1968, do chiến tranh loạn lạc các giấy tờ về nhân thân và giấy khai sinh của ông N2 đã bị làm cháy và thất lạc. Mặc dù, sau khi giải phóng năm 1975 gia đình ông bà đã đến cơ quan có thẩm quyền để xin trích lục lại các giấy tờ nhân thân, giấy khai sinh nhưng các giấy tờ này sau khi giải phóng đều thất lạc trước đó, không còn lưu giữ. Ngoài ra, do gia đình chỉ có một mình ông N2 là con, sợ bị bắt đi lính nên không làm giấy tờ nhân thân, trốn khắp nơi (BL 165).

Như vậy khi còn sống, ông N2 không khai báo cư trú, không xác định được nơi cư trú cụ thể, không có giấy tờ gì thể hiện mối quan hệ cha con giữa ông Đoàn Ngọc H2 và ông Đoàn Ngọc N2. Để chứng minh, người yêu cầu đã cung cấp kết quả giám định phân tích ADN gián tiếp giữa ông Đoàn Ngọc M, ông Đoàn Ngọc H cùng với lời khai của những người làm chứng.

[3] Xét kết quả giám định ADN

[3.1] Theo Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ2200733 ngày 16/9/2022 của Công ty cổ phần D1 - Chi nhánh phía Nam thì ông Đoàn Ngọc M và ông Đoàn Ngọc H có quan hệ huyết thống theo dòng nội (nhiễm sắc thể Y). Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giải thích kết quả giám định nêu trên, tại Công văn số 06/CV-Gentis HCM của Công ty cổ phần D1 - Chi nhánh phía Nam cho biết “Trung tâm sẽ không kết luận mối quan hệ cha và con giữa ông Đoàn Ngọc H2 và ông Đoàn Đình N thông qua xét nghiệm giữa con ruột ông H2 (ông M) và con ruột ông N (ông H)”.

[3.2] Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành trưng cầu giám định ADN tại Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố H theo yêu cầu của ông H, theo đó, Kết quả giám định ADN số 1.314-2023/KLGĐADN-TTPY ngày 17/11/2023 và Công văn số 21/TTPY.GT-23 ngày 29/12/2023 của Trung tâm P - Sở Y tế Thành phố H (BL 121, 122) thể hiện Trung tâm đã thực hiện giám định ADN trên mẫu thu trực tiếp từ ông Đoàn Ngọc H và ông Đoàn Ngọc M, nhưng không có cơ sở để xác định mối quan hệ huyết thống cha - con giữa ông Đoàn Ngọc H2 (đã mất) và Đoàn Đình N (đã mất).

[4] Xét lời khai của các đương sự và những người làm chứng:

[4.1] Các lời khai của ông Đoàn Ngọc M tại bản tự khai ngày 14/3/2023, ngày 18/4/2023 cho thấy ý kiến của ông M không thống nhất. Do ông M là người không biết chữ, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành lấy lời khai, tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2023 (BL 157) ông M khai “việc ông Đoàn Đình N có phải là con ông H2 hay không thì ông không biết ... Ngày 14/3/2023, ông có nộp bản tự khai cho Tòa án nhưng đó là bản khai do ông Đoàn Ngọc H tự ý ghi. Ông không biết chữ nên ông H kêu ông ký chỗ này chỗ kia thì ông ký, ... ông xin rút lại toàn bộ lời khai ngày 14/3/2024”. Tại bản tự khai không ghi ngày tháng năm (nộp sau ngày 18/4/2023) (BL 142) ông M lại khẳng định lời khai tại Bản tự khai ngày 18/4/2023 là hoàn toàn sai sự thật.

[4.2] Các lời khai của người làm chứng là bà bà Nguyễn Thị N1 (BL77), ông Nguyễn S1 khai các ông, bà là hàng xóm, ông Đoàn Ngọc H2 sống cùng với ông Đoàn Đình N tại địa chỉ 8 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên biết rõ ông Đoàn Đình N là con ruột của ông Đoàn Ngọc H2. Tuy nhiên, tại Công văn số 12/CATP-QLHC ngày 02/01/2024 của Công an quận T xác minh không có thông tin công dân Đoàn Đình N, sinh năm 1944 đăng ký thường trú tại địa chỉ 8 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và trong bản khai nhân khẩu của ông H2 cũng không thể hiện đã từng sống tại địa chỉ 8 T, phường P, quận T, không khai nhân khẩu là ông Đoàn Đình N.

[4.3] Lời khai của ông Trần Văn T3 có nội dung: Năm 1984, ông T3 chung sống với bà Trần Thị Đ2 (là em ruột của bà Trần Thị Đ1) nên ông T3 biết ông N là con ruột ông H2. Tuy nhiên, lời khai này đã bị chính bà Trần Thị Đ2 bác bỏ. Ngoài ra, ông T3 sinh năm 1959, ông N chết năm 1968, Như vậy, khi ông N chết thì ông T3 mới 9 tuổi và ông T3 cũng chưa chung sống với bà Đ2, và bà Đ2 cũng bác bỏ lời khai của ông T3.

[5] Quá trình chuẩn bị xét phiên họp và tại phiên họp phúc thẩm, người kháng cáo ông Đoàn Ngọc H không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ nào khác.

Như vậy, căn cứ vào kết quả giám định, các lời khai của ông M và những người làm chứng, không có cơ sở để xác định mối quan hệ huyết thống cha - con giữa ông Đoàn Ngọc H2 (đã mất) và Đoàn Đình N (đã mất). Do vậy ý kiến của Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố cho rằng không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Ngọc H là có cơ sở.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy quyết định giải quyết việc dân sự của cấp sơ thẩm là có căn cứ, nên không chấp nhận kháng cáo của ông H.

[6] Về lệ phí phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên ông H phải chịu lệ phí phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Áp dụng Điều 92, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Ngọc H.

Giữ nguyên Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 187/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về lệ phí phúc thẩm giải quyết việc dân sự:

Ông Đoàn Ngọc H phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007880 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đoàn Ngọc H đã nộp đủ.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Nơi nhận:

  • - TADN tối cao;
  • - TADN cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TADN quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - UBND phường Tân Thành, quận Tân Phú;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HS, VT (Xuân/20)

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Phạm Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 133/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu xác định cha cho con

  • Số quyết định: 133/2024/QĐPT-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xác định cha cho con của ông Đoàn Ngọc H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger