|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1322/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/12/2023
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mây
Ông Võ Văn Tốt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại phòng xử án - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 591/2023/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1133/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lương Đức T - Sinh năm: 1988
Thường trú: 114/4 khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có mặt) - Bị đơn: Bà Đặng Thị T1 - Sinh năm: 1989
Thường trú: 114/4 khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Nơi ở hiện nay: 1 đường T, tổ B, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hoà giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lương Đức T trình bày:
Ông Lương Đức T và bà Đặng Thị T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 do UBND phường A, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 21/3/2017.
Trong thời gian sống chung vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống, tính tình không hợp, thường xuyên cự cãi, gây lộn. Hiện tại, vợ chồng không có sự chia sẻ, không có tiếng nói chung. Hai vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2021 đến nay. Nay cảm thấy không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân do ông Lương Đức T không còn tình cảm gì với bà Đặng Thị T1 nên ông Lương Đức T yêu cầu được ly hôn với bà Đặng Thị T1.
Về con chung: có 01 con chung tên Lương Đức T2, sinh ngày 26/4/2017.
Từ khi 02 vợ chồng ông bà sống ly thân đến nay con chung do ông Lương Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Lương Đức T làm kỹ sư lập trình, thu nhập trung bình khoảng 30.000.000 đồng/tháng.
Ông Lương Đức T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Đặng Thị T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Lương Đức T và bà Đặng Thị T1 đều đang có bệnh, không khỏe. Bà Đặng Thị T1 không có thu nhập ổn định nên ông Lương Đức T tự nguyện hỗ trợ, cấp dưỡng cho bà Đặng Thị T1 mỗi tháng số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng trong vòng 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hoà giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn bà Đặng Thị T1 trình bày:
Bà Đặng Thị T1 và ông Lương Đức T tự nguyện tìm hiểu khoảng 01 năm thì tiến đến hôn nhân, tổ chức đám cưới cuối năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương ngày 21/3/2017. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, cách sống, mâu thuẫn giữa bà Đặng Thị T1 và các thành viên trong gia đình nhà ông Lương Đức T, mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc. Ông T có hành vi bạo hành bà và không quan tâm, chăm sóc vợ con. Hai vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2021 đến nay. Hiện hai vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Nay bà Đặng Thị T1 không đồng ý ly hôn với ông Lương Đức T vì bà đang bị bệnh, con còn nhỏ, bà muốn ông Lương Đức T nuôi bà và con suốt đời. Mặt khác, hiện hai vợ chồng mỗi người đang ở một nơi khác nhau, không ảnh hưởng gì đến nhau nên không cần phải ly hôn. Nếu phải ly hôn thì bà T1 yêu cầu ông T cấp dưỡng cho bà mỗi tháng 7.000.000 đồng cho đến khi bà chết, nếu ông T cấp dưỡng 6.000.000 đồng/tháng thì bà T1 cũng đồng ý.
Về con chung: có 01 con chung tên Lương Đức T2, sinh ngày 26/4/2017.
Trường hợp ông Lương Đức T cương quyết yêu cầu ly hôn thì bà Đặng Thị T1 tự nguyện giao con chung cho ông Lương Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và bà Đặng Thị T1 không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận A nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Về các yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Ông Lương Đức T và bà Đặng Thị T1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Như vậy, hôn nhân của ông Lương Đức T và bà Đặng Thị T1 được thực hiện theo đúng các điều kiện và thủ tục kết hôn nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: quan hệ tình cảm vợ chồng giữa ông Lương Đức T và bà Đặng Thị T1 thực sự mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có sự tôn trọng, chia sẻ, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con cái. Xét thấy, đời sống chung giữa vợ chồng ông Lương Đức T và bà Đặng Thị T1 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của ông Lương Đức T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 19, 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông Lương Đức T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Đặng Thị T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, theo trình bày của bà T1 hiện bà T1 đang bị bệnh, không có thu nhập, hiện con chung đang sinh sống ổn định cùng ông Lương Đức T, ông T có khả năng, điều kiện để chăm sóc tốt cho con chung và bà T1 cũng đồng ý giao con chung cho ông T nuôi dưỡng nên yêu cầu được nuôi con chung của ông Lương Đức T là có cơ sở chấp nhận. Ông Lương Đức T không yêu cầu bà Đặng Thị T1 cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của ông Lương Đức T nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về yêu cầu cấp dưỡng của bà T1: theo quy định tại Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bê kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”. Xét thấy, cả ông T và bà T1 sức khỏe đều không ổn định. Bà T1 hiện ở cùng cha mẹ và được cha mẹ chăm sóc, giúp đỡ. Ông T cũng sống cùng cha mẹ và ông là người trực tiếp nuôi con, bà T1 không cấp dưỡng nuôi con. Theo các tài liệu, chứng cứ do bà Thủy cung c và các tài liệu có trong hồ sơ không có tài liệu thể hiện bà T1 bị mất khả năng lao động nên yêu cầu cấp dưỡng suốt đời của bà T1 là không có cơ sở chấp nhận.
Ghi nhận việc ông Lương Đức T tự nguyện cấp dưỡng cho bà Đặng Thị T1 mỗi tháng 6.000.000 (Sáu triệu) đồng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Lương Đức T và bà Đặng Thị T1 không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Lương Đức T phải nộp, được cấn trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Lương Đức T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0030164 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Ông Lương Đức T đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Đức T được ly hôn với bà Đặng Thị T1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 19 do UBND phường A, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 21/3/2017 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: có 01 con chung tên Lương Đức T2, sinh ngày 26/4/2017. Giao con chung tên Lương Đức T2, sinh ngày 26/4/2017 cho ông Lương Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận việc ông Lương Đức T không yêu cầu bà Đặng Thị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con khi cần thiết có thể xin thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Ghi nhận việc ông Lương Đức T tự nguyện cấp dưỡng cho bà Đặng Thị T1 mỗi tháng 6.000.000 (Sáu triệu) đồng trong thời gian 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Lương Đức T phải nộp, được cấn trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Lương Đức T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0030164 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Ông Lương Đức T đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Mai |
5
Quyết định số 1322/2023/HNGĐ-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số quyết định: 1322/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
