1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Quyết định giám đốc thẩm
Số: 132/2024/DS-GĐT
Ngày: 10/06/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;
Các Thẩm phán: ông Hoàng Thanh Dũng;
ông Võ Văn Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàng Sĩ Hiến, Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Công T, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự:
1/Nguyên đơn:
Bà Lê Thị Thu V, sinh năm 1968;
Địa chỉ: 1084 Lê Văn Lương, ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/Bị đơn.
Ông Trần Văn T1, sinh năm 1980;
Nơi đăng ký thường trú: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi tạm trú: 18B/4B (số mới: 1669/14), khu phố 3, phường Phú Mỹ, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Giả Thị Bích T2, sinh năm 1986;
2
Nơi đăng ký thường trú: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi tạm trú: 18B/4B (số mới : 1669/14), khu phố 3, phường Phú Mỹ, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là bà Lê Thị Thu V (bà V) trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Vào ngày 20/06/2018, bà V cho ông Trần Văn T1 (ông T1) vay số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 1%/tháng.
Khi đến hạn, ông T1 không trả nợ, nên bà V gửi đơn tố cáo. Tại biên bản làm việc ngày 15/10/2019 do công an xã A, huyện C thiết lập, bà V, ông T1, cùng có mặt ông Mai Văn C (ông C-là người đại diện của bà V) và ông Trần Văn S (ông S-là người đại diện của ông T1), các bên đương sự thừa nhận rằng về số tiền mà ông T1 vay của bà V là 1.500.000.000 đồng; số tiền lãi từ ngày 20/06/2018 đến 30/09/2019 là 225.000.000 đồng, thỏa thuận trả hết nợ (vốn và lãi) trong thời hạn 03 tháng (kể từ ngày 01/10/2019 đến ngày 31/12/2019).
Cho đến ngày nay, ông T1 vẫn không trả khoản tiền nói trên.
Vì vậy, bà V khởi kiện, yêu cầu ông T1 trả số tiền gốc 1.500.000.000 đồng, trả số tiền lãi thỏa thuận của 15 tháng, là 225.000.000 đồng; trả số tiền lãi của số tiền 1.750.000.000 đồng, tính từ ngày 01/01/2020 đến ngày xét xử (ngày 07/09/2022), theo lãi suất 10%/năm, là 462.678.000 đồng; tổng cộng tiền vốn và tiền lãi, là 2.187.678.000 đồng.
Để bảo đảm cho việc trả tiền, ông T1 đã giao cho bà V giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) do ông T1 đứng tên; bà V sẽ trả lại những giấy tờ này khi ông T1 thực hiện xong nghĩa vụ trả hết nợ.
Bị đơn là ông Trần Văn T1 (ông T1) trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà V, như sau:
Ông T1 thừa nhận rằng có vay số tiền 1.300.000.000 đồng của bà V, có đưa 02 GCNQSDĐ để thế chấp. Sau đó, ông T1 vay thêm 300.000.000 đồng và đưa thêm 01 GCNQSDĐ; những lần thế chấp này, hai bên thỏa thuận dưới hình thức là hợp đồng ủy quyền.
Trong thời gian vừa qua, ông T1 đã trả 1.300.000.000 đồng và hai bên đã hủy bỏ hợp đồng ủy quyền; việc trả tiền cho bà V là do bà Nguyễn Thị Phương Y (bà Y) thực hiện thay ông T1 và có viết trong giấy nợ do bà V giữ.
3
Tại biên bản làm việc ngày 15/10/2019 của công an xã A, huyện C, ông T1 thừa nhận rằng mình có ký tên vào biên bản, nhưng do nhầm lẫn trong việc xác định số tiền nợ (ông T1 cho rằng chỉ còn nợ 300.000.000 đồng).
Vì vậy, ông T1 không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà V; đòi bà V trả lại 03 giấy CNQSDĐ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Giả Thị Bích T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 13/09/2022, Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu V.
Buộc ông Trần Văn T1 phải trả cho bà Lê Thị Thu V số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng; tiền lãi suất thỏa thuận là 225.000.000 đồng; tiền lãi của tiền gốc kể từ thời gian chậm trả đến thời gian xét xử là 396.495.000 đồng. Tổng cộng 2.121.495.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thu V về số tiền lãi 66.183.000 đồng.
(bản án sơ thẩm còn quyết định về tiền lãi do chậm thi hành án, về án phí).
Trong thời hạn kháng cáo và kháng nghị, ông T1 kháng cáo bản án sơ thẩm và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án sơ thẩm.
Tại bản án Dân sự phúc thẩm số 137/2023/DS-PT ngày 09/02/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử như sau:
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu V.
Buộc ông Trần Văn T1 phải trả cho bà Lê Thị Thu V số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng; tiền lãi suất thỏa thuận là 225.000.000 đồng; tiền lãi của tiền gốc kể từ thời gian chậm trả đến thời gian xét xử là 396.495.000 đồng. Tổng cộng 2.121.495.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thu V về số tiền lãi 66.183.000 đồng.
4
Sau khi ông Trần Văn T1 thanh toán xong số tiền nêu trên, bà Lê Thị Thu V có trách nhiệm trả lại bản chính 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn T1.
Bản án phúc thẩm còn quyết định lãi suất chậm thi hành án, án phí, về quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Vào ngày 15/05/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra thông báo số 4078/TB-VKS-DS gửi Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm nói trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Vào ngày 23/05/2023, ông T1 cũng có đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm nói trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại quyết định số 304/QĐ-VKS-DS ngày 10/11/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án phúc thẩm số 137/2023/DS-PT ngày 09/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án phúc thẩm nói trên và hủy bản án sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 13/09/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm;
Lý do như sau:
-Bà V có cho ông T1 vay tiền nhưng hai bên khai khác nhau về số tiền cho vay, về thời điểm cho vay, về thời hạn và về việc trả nợ. Để làm tin, ông T1 có giao cho bà V giữ 03 giấy CNQSDĐ (do UBND huyện C cấp) và lập hợp đồng (có công chứng) ủy quyền (định đoạt) cho bà V đối với những thửa đất theo giấy CNQSDĐ giao cho bà V. Cho đến ngày nay, chỉ còn lại 01 hợp đồng ủy quyền (đối với thửa đất 132-210 tại xã A, huyện C), tương ứng với sự thừa nhận của ông T1, cho rằng chỉ còn nợ số tiền 300.000.000 đồng. Về vấn đề này (thế chấp QSDĐ, ủy quyền QSDĐ và hủy bỏ ủy quyền QSDĐ), Tòa án chưa làm rõ ;
-Tòa án căn cứ vào biên bản do công an xã A, huyện C lập vào ngày 15/10/2019 để cho rằng ông T1 chưa trả nợ. Nhưng tại buổi làm việc này, ông T1 không có mặt và cũng không ủy quyền cho ông S tham gia. Do đó, biên bản này không có giá trị chứng minh rằng yêu cầu khởi kiện của bà V, là đúng ;
-Việc ông T1 thế chấp QSDĐ cho bà V là không đúng pháp luật. Vì vậy, khi Tòa án xét xử, thì phải tuyên rằng bà V phải trả ngay cho ông T1 những giấy CNQSDĐ đang giữ; Tòa án cấp phúc thẩm cho bà V được tiếp tục giữ giấy CNQSDĐ cho đến khi ông T1 trả hết nợ, là không đúng pháp luật ;
5
-Tòa án cấp phúc thẩm tuyên án rằng ông T1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, nếu chậm thi hành án, theo Điều 357 ; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Cách giải quyết như vậy là không đúng pháp luật, bởi vì trong số tiền mà ông T1 phải trả (2.121.495.000 đồng), thì đã có tiền lãi do hai bên thỏa thuận (225.000.000 đồng) và tiền lãi (tính trên tiền gốc) do chậm trả, tính đến ngày xét xử (396.495.000 đồng), chiếu theo Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao và Án lệ số 08/2016/AL.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về giá trị của “Biên bản làm việc” lập vào lúc 11 giờ 40 phút ngày 15/10/2019 của công an xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh:
Do bà Lê Thị Thu V có đơn thưa ông Trần Văn T1 (đăng ký thường trú tại xã A, huyện C) về việc đòi lại số tiền cho vay (1.500.000.000 đồng), nên công an xã A đã mời những người liên quan đến trụ sở UBND xã A vào ngày 15/10/2019 để giải quyết và đã lập biên bản ghi nhận ý kiến của tất cả những người tham gia.
Tại biên bản nói trên, ngoài chữ ký của đại diện công an xã A (ông Vũ Hoàng B-Phó công an xã, và ông Võ Thanh B1, cảnh sát khu vực), thì còn có chữ ký của ông Mai Văn C (là người đại diện của bà Lê Thị Thu V), của bà Lê Thị Thu V, của ông Trần Văn S (là người đại diện của ông Trần Văn T1) và của chính ông Trần Văn T1.
Riêng ông Trần Văn T1, ngoài việc ký tên vào biên bản ngày 15/10/2019 nói trên, thì đương sự còn ghi chú thêm dòng chữ “…………phần lãi phát sinh thời gian 15 tháng với số tiền 100.000.000 đồng....”, trước khi ký tên.
Theo văn bản số 05/CAX.CV ngày 08/01/2021 và văn bản số 68/CAX-CV ngày 08/02/2022 của công an xã A (gửi Tòa án cấp sơ thẩm, trình bày về quá trình lập biên bản ngày 15/10/2019 nói trên), thì có căn cứ kết luận như sau:
-Tại buổi làm việc ngày 15/10/2019, không có mặt bà Lê Thị Thu V và ông Trần Văn T1, nhưng có mặt hai người đại diện của họ, là ông Mai Văn C (đại diện cho bà Lê Thị Thu V) và ông Trần Văn S (đại diện cho ông Trần Văn T1);
-Công an xã A chỉ ghi nhận ý kiến của các bên đương sự tự thỏa thuận giải quyết (việc tranh chấp với nhau), mà không thụ lý đơn, bởi vì công an xã A
6
cho rằng sự việc (tranh chấp) thuộc quyền giải quyết của Tòa án (và đã hướng dẫn để hai bên biết, khởi kiện tại Tòa án).
Như vậy, mặc dù ông Trần Văn T1 không có mặt khi công an xã A lập biên bản ngày 15/10/2019 và đương sự cũng phủ nhận việc ủy quyền cho ông Trần Văn S để tham gia buổi làm việc (vào cùng ngày 15/10/2019), nhưng bằng vào việc sau đó, đương sự đã đồng ý ký nhận vào biên bản và đã tự tay ghi thêm dòng chữ “….………phần lãi phát sinh thời gian 15 tháng với số tiền 100.000.000 đồng....”, thì có căn cứ kết luận rằng đương sự đã biết toàn bộ nội dung của biên bản ngày 15/10/2019 và đồng ý với nội dung của biên bản. Do đó, biên bản ngày 15/10/2019 là chứng cứ của vụ án, là bằng chứng chứng minh rằng yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu V, là đúng.
[2]Về nội dung của biên bản ngày 15/10/2019 và sự thực hiện thỏa thuận tại biên bản này:
[2.1]Biên bản ngày 15/10/2019 ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà Lê Thị Thu V và ông Trần Văn T1, như sau:
-Tính đến ngày 30/09/2019, ông Trần Văn T1 còn nợ số tiền vốn là 1.500.000.000 đồng; nợ số tiền lãi của 15 tháng đã qua với lãi suất 1%/tháng, là 225.000.000 đồng (tổng cộng là 1.725.000.000 đồng);
-Cách thức trả nợ: từ ngày 15 đến ngày 20/10/2019, trả 400.000.000 đồng và bà Lê Thị Thu V trả lại giấy CNQSDĐ; từ ngày 01/10/2019 đến ngày 31/12/2019, trả hết số tiền còn lại.
[2.2]Xét thấy sự thỏa thuận giữa bà Lê Thị Thu V và ông Trần Văn T1 nói trên, là tự nguyện và không trái pháp luật về việc quy định lãi suất tối đa mà hai bên có thể thỏa thuận (không quá 20%/năm-Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015).
[2.3]Xét thấy, mặc dù không có bằng chứng rõ ràng để xác định thời điểm phát sinh giao dịch giữa hai bên đương sự, nhưng căn cứ vào nội dung biên bản ngày 15/10/2019 về việc tính tiền lãi chưa trả, Tòa án có thể suy đoán rằng ít nhất, giao dịch đã xảy ra 15 tháng trước đó, tính từ ngày lập biên bản (tức là vào khoảng tháng 07/2018).
[2.4]Trong thực tế, kể từ ngày lập biên bản (15/10/2019) cho đến ngày nay, ông Trần Văn T1 không trả bất cứ khoản tiền nào theo thỏa thuận đã ký kết.
[3]Về việc bà Lê Thị Thu V giữ 03 (ba) giấy CNQSDĐ của ông Trần Văn T1 và những hợp đồng ủy quyền (định đoạt) QSDĐ xác lập giữa ông Trần Văn T1 (bên ủy quyền) và bà Lê Thị Thu V (bên nhận ủy quyền):
7
[3.1]Bà Lê Thị Thu V và ông Trần Văn T1 đều thừa nhận rằng trong giao dịch vay tiền giữa hai bên đương sự, ông Trần Văn T1 (người vay) có đưa giấy CNQSDĐ cho bà Lê Thị Thu V (người cho vay) giữ, để bảo đảm cho khoản tiền vay. Mặc dù bà Lê Thị Thu V và ông Trần Văn T1 đều không xuất trình được chứng cứ bằng văn bản để xác định rõ ràng về sự việc này, nhưng việc bà Lê Thị Thu V, cho đến ngày hôm nay, vẫn còn đang giữ 03 (ba) giấy CNQSDĐ (do ông Trần Văn T1 đứng tên chủ sử dụng), là sự việc có thật; đó là những giấy CNQSDĐ do UBND huyện C cấp, liệt kê sau đây:
Giấy CNQSDĐ số AB114403 (số vào sổ cấp giấy CN: H00073) ngày 31/12/2004; giấy CNQSDĐ số AB793522 (số vào sổ cấp giấy CN: H00372) ngày 01/03/2005; giấy CNQSDĐ số AÐ870632 (số vào sổ cấp giấy CN: H01421) ngày 07/06/2005.
Sự việc ông Trần Văn T1 giao giấy CNQSDĐ cho bà Lê Thị Thu V thủ giữ nói trên, tuy không được xem là giao dịch “Thế chấp QSDĐ” hợp pháp để bà Lê Thị Thu V có thể trở thành “Chủ nợ có bảo đảm” trong giao dịch vay tiền xác lập với ông Trần Văn T1 (vì không hội đủ những điều luật định đối với giao dịch thế chấp QSDĐ), nhưng đây là việc làm thường xảy ra trong xã hội, mà các bên tham gia thường gọi dưới tên là “Giữ giấy CNQSDĐ/giấy chứng nhận về quyền tài sản....để làm tin”; hậu quả kéo theo là, người vay tiền (con nợ)-cũng là người đứng tên giấy chứng nhận, sẽ bị hạn chế một số quyền dân sự (đối với tài sản do mình đứng tên) trong khoảng thời gian chưa trả hết tiền cho người cho vay (chủ nợ); sự việc này xảy ra, là do sự thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên và không trái pháp luật. Do đó, việc Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố rằng ông Trần Văn T1 chỉ được nhận lại giấy CNQSDĐ khi đã trả hết tiền cho bà Lê Thị Thu V, là đúng pháp luật.
[3.2]Cùng trong ngày 03/07/2018, giữa ông Trần Văn T1 (bên ủy quyền) và bà Lê Thị Thu V (bên nhận quyền) xác lập giao dịch về việc ủy quyền (định đoạt) đối với những thửa đất được công nhận theo 03 (ba) giấy CNQSDĐ nói trên. Tuy nhiên, sau đó hai cũng đã lập hợp đồng để hủy bỏ việc ủy quyền.
Trong hồ sơ vụ án, không có bằng chứng nào để xác định rằng giữa việc ủy quyền (định đoạt) QSDĐ và việc vay tiền (có giao giấy CNQSDĐ để làm tin), có sự liên hệ với nhau. Do đó, việc kháng nghị yêu cầu làm rõ về mối liên hệ này để giải quyết vụ án, là không cần thiết.
[4]Về việc tính tiền lãi và lãi suất:
Việc tính tiền lãi và lãi suất trong hợp đồng vay tài sản (không phải là hợp đồng tín dụng) được quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
8
2015 và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể như sau:
Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Điều 357.Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền:
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.
“Điều 468.Lãi suất:
Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Quy định của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao:
“Điều 5. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015:
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 hoặc xác lập trước ngày 01-01-2017 nhưng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
9
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc);
Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
a)Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ.
Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc).
b)Trường hợp chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn thì còn phải trả lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả = (nợ lãi chưa trả) x (lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc);
c)Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Mức lãi suất trên nợ gốc quá hạn do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất do các bên thỏa thuận hoặc 150% lãi suất vay do các bên thỏa thuận) x (thời gian chậm trả nợ gốc)”.
“Điều 6. Xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả:
“Thời điểm xét xử sơ thẩm” hướng dẫn tại Nghị quyết này là ngày Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc ngày Tòa án tuyên án khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm lại.
10
“Thời điểm trả nợ” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này là thời điểm xét xử sơ thẩm.
“Thời gian chậm trả” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này được xác định như sau:
a)Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo;
b)Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
c)Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc chưa trả bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Trần Văn T1 phải trả cho bà Lê Thị Thu V những khoản tiền như sau:
-Số tiền vốn gốc là 1.500.000.000 đồng và số tiền lãi của 15 tháng trước đó (tính từ ngày 15/10/2019 trở về trước), lãi suất 1%/tháng, là 225.000.000 đồng; tổng cộng là (1.500.000.000 đồng + 225.000.000 đồng) = 1.725.000.000 đồng;
-Số tiền chậm trả nợ, tính trên số tiền vốn gốc (1.500.000.000 đồng) kể từ ngày 01/01/2020 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 07/09/2022, lãi suất 10%/năm, là 396.495.000 đồng (số tiền này được tính, dựa trên cam kết của ông Trần Văn T1 tại biên bản ngày 15/10/2019 rằng sẽ trả hết nợ cho bà Lê Thị Thu V trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 01/10/2019 đến ngày 31/12/2019. Sau đó, ông Trần Văn T1 không thực hiện, nên phải trả thêm tiền lãi do chậm trả nợ, được tính kể từ ngày 01/01/2020 cho đến ngày xét xử sơ thẩm).
Ngoài số tiền phải trả nói trên, chiếu theo Điều 357; Điều 368 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên rằng nếu ông Trần Văn T1 chậm thi hành án, thì còn phải trả thêm tiền lãi (do chậm thi hành án), tính trên tổng số tiền chưa thi hành án.
Đối chiếu với quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự và quy định của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao đã dẫn chiếu, thì có căn cứ xác định rằng
11
việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm về những khoản tiền mà ông Trần Văn T1 phải trả, là đúng pháp luật.
[5]Với những tài liệu, chứng cứ và diễn biến của vụ án đã phân tích và chứng minh nói trên, thì có căn cứ xác định rằng việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm, là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 304QĐ-VKS-DS ngày 10/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giữ nguyên bản án Dân sự phúc thẩm số 137/2023/DS-PT ngày 09/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Thu V; bị đơn là ông Trần Văn T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Giả Thị Bích T2.
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Quyết định số 132/2024/DS-GĐT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số quyết định: 132/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 304QĐ-VKS-DS ngày 10/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án Dân sự phúc thẩm số 137/2023/DS-PT ngày 09/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
