TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 13/3/2025.
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trương
- Ông Võ Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2024/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐ - HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm: 1978 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số D, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N trình bày: Bà N và ông P chung sống như vợ chồng năm 1994 và đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống của ông bà vào thời gian đầu hạnh phúc nhưng vài năm trở lại đây thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, hay cãi nhau dẫn đến cuộc sống gia đình không hạnh phúc, ông P không có trách nhiệm với gia đình. Hai bên cũng đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không được. Do tình cảm không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Nguyễn Ngọc G (nam) sinh ngày 24/3/1995 và Nguyễn Vỹ K (nam) sinh ngày 30/5/2006. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hữu P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên không cung cấp ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, còn bị đơn thì chưa chấp hành đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về con chung: Đã trưởng thành; Về tài sản chung: Không có; Nợ chung: Không có. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N nộp đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hữu P. Bị đơn có nơi ở tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tại phiên tòa, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận định Nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc N và bị đơn Nguyễn Hữu P chung sống như vợ chồng năm 1994 và đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND xã phường H, quận C, thành phố Cần Thơ nên được xem là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của bà N thì cuộc sống của vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, vài năm trở lại đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông bà hay cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, hai bên cũng đã hàn gắn tình cảm nhưng không được. Do tình cảm không còn nên bà N yêu cầu ly hôn với ông P. Quá trình giải quyết vụ án ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Điều đó cho thấy ông P đã không còn quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm với bà N. Xét thấy, hôn nhân của các đương sự đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, bà N yêu cầu ly hôn với ông P là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về con chung: Các đương sự có 02 con chung là Nguyễn Ngọc G (nam) sinh ngày 24/3/1995 và Nguyễn Vỹ K (nam) sinh ngày 30/5/2006. Đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu P.
[2] Về con chung: Các đương sự có 02 con chung là Nguyễn Ngọc G (nam) sinh ngày 24/3/1995 và Nguyễn Vỹ K (nam) sinh ngày 30/5/2006. Đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
[4] Nợ chung: Đương sự khai không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo Biên lai số 0003406 ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Bà N đã nộp đủ án phí.
[6] Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền được yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án dân sự theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quốc Việt |
Quyết định số 13/2025/HNGĐ - ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số quyết định: 13/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
