TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 1276/2025/QÐST-HNGĐ | Thành phố T, ngày 23 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Điều 212 và Điều 213, Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc hôn nhân gia đình thụ lý số 972/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình:
- - Bà Lê Thị Mỹ C, sinh năm 1995.
- - Ông Trần Tuấn V, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: số C Đường B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và căn cứ lời khai của đương sự trong quá trình tố tụng, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Người yêu cầu ông Trần Tuấn V và bà Lê Thị Mỹ C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 112 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B (nay là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/12/2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông V, bà C là hợp pháp.
Thời gian đầu sau khi kết hôn, ông V, bà C chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn: vợ chồng thường xuyên cãi vã về vấn đề tiền bạc. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông V, bà C đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2024 cho đến nay. Ông V, bà C đã tự hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Cả hai đều xác định không còn tình cảm vợ chồng với nhau.
Xét tình trạng hôn nhân của ông V, bà C đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông V, bà C yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho ông bà là có cơ sở chấp nhận.
[2] Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Vũ Quốc B, sinh năm 15/9/2015. Ông V, bà C thỏa thuận: Giao con chung cho bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, bắt đầu từ khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự giao nhận với nhau vào ngày 05 dương lịch hàng tháng. Trường hợp chậm thi hành án thì phải chịu lãi theo quy định của pháp luật.
Thỏa thuận này của ông V, bà C là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Quốc Bảo tại Tờ trình bày nguyện vọng ghi ngày 15/5/2025 nên chấp nhận.
[3] Về tài sản chung: Ông V, bà C xác định không có.
[4] Về nợ chung: Ông V, bà C xác định không có.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025, Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ việc;
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Tuấn V và bà Lê Thị Mỹ C thuận tình ly hôn;
- Giấy chứng nhận kết hôn số 112 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B (nay là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/12/2014 cho ông Trần Tuấn V, bà Lê Thị Mỹ C không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Giao con chung tên Trần Vũ Quốc B, sinh năm 15/9/2015 cho bà Lê Thị Mỹ C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Trần Tuấn V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, bắt đầu từ khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự giao nhận với nhau vào ngày 05 dương lịch hàng tháng.
- Kể từ ngày bà Lê Thị Mỹ C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Tuấn V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi đối với số tiền cấp dưỡng chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: Ông V, bà C xác định không có.
- - Về nợ chung: Ông V, bà C xác định không có.
2. Về lệ phí Tòa án: 300.000 đồng, ông Trần Tuấn V, bà Lê Thị Mỹ C mỗi người chịu một nửa, được cấn trừ vào 300.000 đồng ông V, bà C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0072778 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông V, bà C đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hợi |
Quyết định số 1276/2025/QÐST-HNGĐ ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 1276/2025/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông V bà C yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
