|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2025/HS-ST Ngày 17 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thi.
Ông Phạm Văn Dung.
Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận An Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Hoàng Văn T, sinh ngày 28/7/1993 tại Yên Bái; ĐKTT: Thôn L, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở: Số I Quốc lộ E mới, tổ dân phố C, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S, sinh năm 1954, con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1956, có vợ là Sùng Thị G, sinh năm 1995 (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 26/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc từ ngày 10/5/2022 đến ngày 10/11/2023; bị tạm giữ từ ngày 08/3/2025, tạm giam từ ngày 17/3/2025; có mặt.
- Hoàng Văn K, sinh ngày 04/4/1992 tại Yên Bái; ĐKTT: Thôn L, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở: Tổ dân phố C, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B, sinh năm 1952, con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/3/2025, tạm giam từ ngày 17/3/2025; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số H đường Q, phường N, quận A, thành phố Hải Phòng; đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/3/2025, Công an thành phố H nhận được đơn trình báo của anh Lê Tuấn N2 về việc: Tối ngày 02/3/2025, anh N2 để xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 67N1-374.30 của gia đình tại trước cửa nhà ở số H đường Q, phường N, quận A, sau đó khóa cổng đi ngủ, đến sáng ngày 03/3/2025 thì phát hiện xe đã bị trộm cắp.
Ngày 08/3/2025, Hoàng Văn T và Hoàng Văn K đến Công an thành phố H đầu thú về hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 67N1-374.30 và khai nhận: Tối ngày 02/3/2025, T đến phòng trọ của K chơi và rủ K đến đêm cả hai sẽ đi tìm nhà nào sơ hở thì trộm cắp thì K đồng ý. Khoảng 00 giờ ngày 03/3/2025, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15AN - 017.93 của K chở Thứ đến tổ dân phố Q, phường N, quận A. Khi đến trước cửa nhà số H đường Q, T phát hiện nhà chỉ khóa cổng còn cửa nhà đang mở, trong sân có 01 xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 67N1-374.30 và 01 xe đạp mini. Thứ bảo K đứng ngoài cảnh giới rồi trèo qua cổng vào trong nhà tìm được 01 chùm chìa khóa trong đó có 01 chìa khóa xe mô tô loại Smartkey để trên bàn. Thứ cầm chùm chìa khóa mở cổng ra chỗ K hỏi có lấy xe mô tô không, K không đồng ý lấy nhưng Thứ vẫn quay vào sân tháo chiếc chìa khóa Smartkey ra còn chùm chìa khóa treo vào tay lái xe đạp. Do xe mô tô khóa cổ, T không biết sử dụng chìa khóa Smartkey nên đã dựng chân chống rồi dùng hai tay cầm vào phần tay dắt ở đuôi xe kéo lùi ra cổng. Thứ bảo K phá giúp khóa cổ xe, K sợ đứng lâu sẽ bị phát hiện nên đã cùng T thay nhau đạp vào tay lái để phá khóa, lúc sau thấy đèn báo khóa điện đã được kích hoạt, Thứ nổ máy điều khiển xe mô tô trộm cắp được, K điều khiển xe mô tô của K đi sau rồi cùng đi về phòng trọ của T cất dấu xe trộm cắp được. Ngày hôm sau, T một mình tháo 02 gương chiếu hậu của xe mô tô trộm cắp được ra và dùng miếng băng dính đen dán vào các số “6” và “3” trên BKS 67N1 - 374.30 rồi tháo lắp vào xe mô tô của K, còn BKS xe mô tô của K, Thứ tháo lắp sang xe mô tô trộm cắp được mục đích để tránh bị phát hiện. Tối cùng ngày, T mang xe trộm cắp được ra bến xe T gửi xe khách về Yên Bái, nhờ anh trai là Hoàng Văn S1, trú tại thôn L, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái nhận xe mang về nhà để cất giấu.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn T, thu giữ: 02 gương chiếu hậu của xe mô tô Honda AirBlade; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 của Thứ. Kỳ giao nộp 01 xe mô tô FLYAMAHA CKD lắp biển 67N1 - 374.30 (được dán băng dính đen tại vị trí số "6" và số "3"). Bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ Thứ) giao nộp 01 xe mô tô Honda Airblade, lắp biển 15AN - 017.93.
Kết luận giám định số 642/KL-KTHS ngày 12/3/2025, PC09 - Công an thành phố H kết luận: Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: H, lắp BKS: 15AN - 017.93, có số khung: RLHJF6327HZ097711, số máy: JF63E-2117478 là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự. Xe mô tô hai bánh, lắp BKS: 67N1 - 374.30, có số khung: RR6DCB7UMDT834054, số máy: VZS139FMB*834054* là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự; biển kiểm soát 15AN - 017.93 là thật.
Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 03/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng, kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Airblade 67N1-374.30 trị giá 25.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 114/CT-VKS ngày 22/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận An Dương đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Văn K về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản như đã khai tại Cơ quan điều tra và Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Văn K đồng phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T mức án từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù, xử phạt bị cáo Hoàng Văn K mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 thu giữ của Thứ.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét.
Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ xác định: Khoảng 00 giờ ngày 03/3/2025, Hoàng Văn T và Hoàng Văn K thống nhất đi tìm nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15AN - 017.93 của K chở T đi đến nhà số H đường Q, phường N, quận A thì Thứ phát hiện trong sân có dựng 01 xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 67N1 - 374.30 trị giá 25.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị N1. Thứ bàn với K chiếm đoạt chiếc xe này, K không đồng ý nhưng khi T dắt được xe ra ngoài thì K vẫn giúp T phá khóa cổ xe để nổ máy mang xe về phòng trọ cất giấu. Do vậy đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Văn K đã đồng phạm tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
[3] Về vị trí, vai trò, tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội có đồng phạm với lỗi cố ý trực tiếp, trong đó bị cáo T giữ vai trò chính, T là người khởi xướng, trực tiếp chiếm đoạt, thay đổi biển kiểm soát và mang xe đi cất giấu, bị cáo K là người giúp sức.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân: Bị cáo Thứ có 01 tiền sự: Ngày 26/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc từ ngày 10/5/2022 đến ngày 10/11/2023. Bị cáo K nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo T còn có bố được tặng thưởng huy chương kháng chiến. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử các bị cáo mức án nghiêm, trong đó xét xử bị cáo T mức án cao hơn bị cáo K. Cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với từng bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, không có tài sản, thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại bị hại. Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 thu giữ của bị cáo T. Xét đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu FLYAMAHA CKD biển kiểm soát 15AN - 017.93. Quá trình điều tra xác định xe của anh Nguyễn Trọng N3, trú tại tổ dân phố M, phường Đ, quận K, Hải Phòng. Gia đình anh N3 đã bán cho người tên M không rõ lai lịch, địa chỉ. Bị cáo K mua lại chiếc xe này của người không quen biết với giá 2.000.000 đồng ở đường A, quận N Khi K mua xe không làm văn bản, không có giấy tờ xe kèm theo nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 67N1 - 374.30 cùng 02 gương chiếu hậu của xe. Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Văn K đồng phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 08/3/2025.
Xử phạt bị cáo và Hoàng Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 08/3/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, kiểu máy A83 màu vàng có lắp sim, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Văn K mỗi bị cáo đều phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chỉnh |
Quyết định số 122/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số quyết định: 122/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T và Hoàng Văn K - Trộm cắp tài sản
