|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-9-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chánh Bổn.
2. Ông Biện Hữu Tấn.
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lồ Nhộc D, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Tổ E, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/03/2024; bản tự khai ngày 06/05/2024 nguyên đơn là chị L1 Nhộc Dếnh trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn L tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 31/7/2020. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm sống và tính tình không hợp nhau. Vì những điều này mà vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa với nhau và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh L nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn L.
- Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn L có 01 con chung là Hoàng Nhật Đ, sinh ngày 03/02/2021. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Hoàng Văn L không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai ngày 07/8/2024, bị đơn anh Hoàng Văn L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L1 Nhộc Dếnh tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 31/7/2020. Anh thống nhất với lời trình bày của chị D về thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian vợ chồng sống ly thân. Nay anh nhận thấy vẫn không còn tình cảm yêu thương đối với chị D nên chị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh thì anh đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị Lồ N Dếnh có 01 con chung là Hoàng Nhật Đ, sinh ngày 03/02/2021. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung là cháu Đ cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Lồ N Dếnh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 20/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán có Công văn số 332/CV-VKS-DS về việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm do xét thấy vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Hoàng Văn L hiện cư trú tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật: Chị Lồ Nhộc D yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Hoàng Văn L, yêu cầu nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về xác định tư cách đương sự: Chị Lồ Nhộc D là nguyên đơn; anh Hoàng Văn L là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lồ Nhộc D và bị đơn anh Hoàng Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[5] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Chị Lồ Nhộc D và anh Hoàng Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 31/7/2020 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lồ Nhộc D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị D và anh L đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng giữa chị D và anh L đã xảy ra những bất đồng, mâu thuẫn và hai người đã tự chấm dứt đời sống chung của vợ chồng từ năm 2021 đến nay. Tại Điều của 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Tuy nhiên, kể từ khi chị D anh L không còn sống chung với nhau thì hai người cũng không quan tâm, chăm sóc, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh L đã trầm trọng; cuộc sống chung không còn; mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị D yêu cầu xin ly hôn với anh L là có căn cứ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D, giải quyết cho chị D được ly hôn với anh L theo Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[6] Về con chung: Chị Lồ Nhộc D và anh Hoàng Văn L có 01 con chung là Hoàng Nhật Đ, sinh ngày 03/02/2021. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và anh L cũng đồng ý giao cháu Đ cho chị D nuôi dưỡng. Theo tài liệu, chứng cứ thể hiện chị D hiện đang là nhân viên văn phòng có thu nhập ổn định, có đạo đức tốt. Xét thấy việc giao cháu Đ cho chị D nuôi dưỡng là đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên, căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Đ cho chị D trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.
Anh L2 có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Chị D chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1) Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lồ Nhộc D. Chị Lồ N Dếnh được ly hôn với anh Hoàng Văn L.
2) Về con chung: Giao cháu Hoàng Nhật Đ, sinh ngày 03/02/2021 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.
Anh L2 có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3) Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4) Về án phí: Chị L1 Nhộc Dếnh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai số 0014275 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán. Chị D đã nộp đủ án phí.
5) Về quyền kháng cáo: Chị Lồ Nhộc D và anh Hoàng Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Viễn |
Quyết định số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số quyết định: 121/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lồ Nhộc D yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Văn L
