Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Số: 1200/2023/QĐ-PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 12 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Các Thẩm phán: 1. Bà Đặng Huyền Phương

2. Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà An Phương Trang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Hậu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 21/02/2023, bà T nêu: Vào cuối năm 2018, bà T cho gia đình ông Huỳnh Huy P số tiền là 180.000.000đ. Khi bà có nhu cầu lấy lại tiền thì ông P1 thêm thời gian trả nợ do một số đối tác mua hàng của ông P2 tất toán công nợ cho ông P3 ông P2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T. Đến ngày 24/03/2020, ông P4 ký giấy xác nhận nợ (Phía sau tờ hóa đơn của cửa hàng HƯNG PHÁT do ông P5 chủ sở hữu) với nội dung như sau: “Tôi là P. Nếu đòi ông S ông P1 có gởi trả được đồng nào thì tôi sẽ gửi lại cho chị T1 số tiền còn lại (180.000.000)”. Do đó bà T2 kiện yêu cầu ông P6 nợ số tiền 180.000.000đ.

Tại bản khai ngày 29/05/2023 (BL.45) ông Huỳnh Huy P7 bày: Ông và bà T3 có quan hệ quen biết, bà T4 biết với mẹ ông. Một thời gian sau khi mẹ ông chết, bà T đến gặp ông đưa giấy nợ có xác nhận chữ ký của mẹ ông với tổng nợ là 420.000.000đ. Ông đã thỏa thuận trả cho bà T 240.000.000đ và bà T5 lại hết giấy nợ, còn 180.000.000đ thì ông xác nhận khi nào ông S1 P1 có gởi lại cho ông P8 nào thì ông P9 gởi lại cho bà T6 thân ông P10 biết ông S ông P11, thỉnh thoảng thấy hai ông có đến mua hàng của mẹ ông.

Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã ra quyết định số 66/2023/QĐ-CCTLCC yêu cầu nguyên đơn cung cấp thông tin về họ tên, năm sinh, địa chỉ của ông S ông P1 theo giấy nhận nợ ngày 24/3/2020. Ngày 28/7/2023, nguyên đơn cung cấp thông tin của ông S ông P1 cụ thể như sau: Ông Phạm S1 sinh năm 1973, địa chỉ: G Â, phường T, quận T, Thành phố H ông Hồ T7 P2 sinh năm 1976, địa chỉ: A đường số H, phường B, quận B, T án nhân dân quận T đã tiến hành xác minh tại các địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Ngày 15/8/2023, Công an phường B nhận tại địa phương không có địa chỉ: A đường số H, phường B, quận B, T 05/9/2023, nguyên đơn đề nghị Tòa án gia hạn thời gian cung cấp tài liệu chứng cứ về thông tin của ông P2 đến hết ngày 20/9/2023 tuy nhiên đã hết thời hạn nhưng nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã đình chỉ vụ án.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 518/2023/QÐST-DS ngày 26/09/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định do nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện nơi cư trú của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn: Bà Võ Thị Bích T8 và bị đơn Ông Huỳnh Huy P12

Tại đơn kháng cáo ngày 03/10/2023, bà Võ Thị B T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm:

- Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 518/2023/QÐST-DS ngày 26/09/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

- Giao hồ sơ về lại cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình tiếp tục giải quyết vụ án.

Theo kháng cáo của bà T8, bà T1 không có đề nghị nào đối với Tòa án nhân dân quận Tân Bình về việc đưa ông S1 ông P2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên việc yêu cầu bà T8 phải cung cấp tài liệu, chứng cứ của ông S1 ông P2 cho Tòa án là không có cơ sở. Đồng thời, trong trường hợp Tòa án nhân dân quận Tân Bình xác định ông P2 là người liên quan thì biên bản xác minh địa chỉ tại cơ quan Công an chưa phải là cơ sở vững chắc để xác định địa chỉ của ông P2 không đúng nên không thể tống đạt được cho ông P13, vì ngoài ra bà T1 còn cung cấp thêm được số điện thoại của ông P2 đang sử dụng.

Tại phiên họp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 518/2023/QÐST-DS ngày 26/09/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình do kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và biên bản tố tụng lưu tại hồ sơ, Hội đồng xét quyết định xét thấy:

Bà T1 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn H P3 trả tiền theo Giấy xác nhận nợ ngày 24/03/2020. Tuy nhiên, giấy xác nhận nợ này xác nhận nghĩa vụ trả tiền có điều kiện “Tôi là P3 Nếu đòi ông S1 và ông P2 có gởi trả được đồng nào thì tôi sẽ gửi lại cho chị T1 với số tiền còn lại (180.000.000)”. Theo nội dung giấy xác nhận nợ này – bà T1 chỉ được yêu cầu ông P3 trả tiền khi ông S1 và ông P2 đã trả tiền.

Như vậy, việc bà T1 khởi kiện ông P3 khi chưa có chứng từ, tài liệu chứng minh ông S1 và ông P2 đã trả tiền cho ông P3 mà ông P3 vi phạm nghĩa vụ đưa lại cho bà T1 số tiền ông S1 và ông P2 đã trả là chưa đủ chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích của bà T1 bị xâm phạm để khởi kiện theo Khoản 5 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã ra quyết định yêu cầu bà T1 cung cấp địa chỉ của ông S1 và ông P2 là đúng quy định, vì bà T1 là người khởi kiện, đồng thời bà T1 là người đã chấp nhận giấy nợ ngày 24/03/2020 của ông P3 khi xác định nghĩa vụ trả nợ của ông S1 và ông P2. Bên cạnh đó, ông P3 phủ nhận việc quen biết ông S1 và ông P2 do vậy nghĩa vụ cung cấp tên họ đầy đủ và địa chỉ của ông P2 và ông S1 là nghĩa vụ của bà T1 khi khởi kiện để đưa các ông này vào tham gia tố tụng nhằm xác định quyền và lợi ích của bà T1 khi giải quyết vụ án.

Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã xác minh địa chỉ của ông S1 và ông P2 do bà T1 cung cấp, kết quả xác minh của Công an phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (BL.53) cho biết: Tại địa phương không có địa chỉ 116/28/6 Đường số H, phường B, quận B, T Tòa án xác minh địa chỉ, sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú là đúng quy định tại điểm g, h Khoảng 1 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Kết quả xác minh của Công an phường B coi là chứng cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bà T1 không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú của ông P2 và ông S1 là không thực hiện nghĩa vụ đã được Tòa án yêu cầu theo Khoản 1 Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc bà T1 cung cấp số điện thoại của ông P13 – xét thấy: số điện thoại của ông P2 mà bà T1 cung cấp chưa được xác thực là đúng số điện thoại của ông P2 hay không nên không đảm bảo việc thực hiện cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử theo quy định tại Điều 173, Điều 176 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vậy, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng pháp luật, kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là không đủ cơ sở. Căn cứ Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng phúc thẩm quyết định: Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 518/2023/QÐST-DS ngày 26/09/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

Do giữ nguyên quyết định sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên;

  • - Căn cứ Điều Khoản 1 Điều 148 và Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị B T1
  2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 518/2023/QÐST-DS ngày 26/09/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

    1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm đã thụ lý số: 200/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

      Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bích T8, sinh năm 1976

      Địa chỉ: I Hồ V, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

      Bị đơn: Ông Huỳnh Huy P14, sinh năm 1979

      Địa chỉ: I Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

    2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
      • - Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
      • - Hoàn lại cho bà Võ Thị B T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) bà T1 đã nộp theo biên lai số 0009137 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) người kháng cáo phải chịu, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0023741 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Người kháng cáo Võ Thị B T2 đã nộp đủ án phí.
  4. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

- TAND tối cao;

- TAND cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND TP.HCM;

- TAND Q.Tân Bình;

- Chi cục THADS Q.Tân Bình;

- Các đương sự;

- Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Nguyễn Thị Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 1200/2023/QĐ-PT ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số quyết định: 1200/2023/QĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger